Từ ngày 1-4-2026, nhiều luật và nghị định chính thức có hiệu lực, tác động trực tiếp đến nhiều lĩnh vực đời sống xã hội.
Quyền sở hữu trí tuệ được sử dụng để góp vốn, thế chấp, đầu tư
Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ (SHTT) 2025 (có hiệu lực từ ngày 1-4-2026) đã luật hóa các vấn đề liên quan đến trí tuệ nhân tạo (AI).
Luật giao Chính phủ quy định chi tiết việc xác lập quyền đối với các đối tượng được tạo ra có sử dụng AI, đồng thời khẳng định nguyên tắc cốt lõi: Tác giả, nhà sáng chế phải là con người, AI không được công nhận là chủ thể quyền.
Luật cũng cho phép tổ chức, cá nhân sử dụng dữ liệu SHTT đã công bố để nghiên cứu, thử nghiệm, huấn luyện AI, nhưng phải bảo đảm không gây ảnh hưởng bất hợp lý đến quyền và lợi ích hợp pháp của chủ sở hữu.
Luật sửa đổi toàn diện các quy định về giới hạn quyền SHTT theo hướng cân bằng hơn với lợi ích công cộng. Việc khai thác và bảo vệ quyền không được xâm phạm lợi ích Nhà nước, xã hội và các chủ thể khác. Luật đặt ra cơ chế xử lý xung đột giữa các quyền SHTT trên cùng một đối tượng, cho phép tòa án chấm dứt quyền phát sinh sau nếu gây cản trở quyền đã được xác lập trước.
Với việc bổ sung Điều 8a, luật cho phép quyền SHTT được sử dụng để góp vốn, thế chấp, đầu tư và thực hiện các giao dịch thương mại, đồng thời yêu cầu chủ sở hữu phải có cơ chế quản trị nội bộ đối với tài sản này. Nhà nước cũng khuyến khích khai thác quyền SHTT nhằm huy động nguồn lực cho sản xuất, kinh doanh.
Luật cũng thúc đẩy mạnh mẽ chuyển đổi số trong lĩnh vực SHTT. Khung pháp lý về số hóa toàn diện hoạt động SHTT được thiết lập, bao gồm phát triển hạ tầng số, dịch vụ công trực tuyến, cơ sở dữ liệu về quyền và giao dịch SHTT, cũng như ứng dụng dữ liệu lớn và AI trong xử lý nghiệp vụ, góp phần nâng cao tính minh bạch và hiệu quả quản lý.
Đối với thủ tục, Luật sửa đổi theo hướng đơn giản hóa và linh hoạt hơn: Mở rộng hình thức nộp đơn điện tử cho mọi thủ tục, chuyển từ quy định liệt kê hồ sơ sang nguyên tắc chung, đồng thời tăng trách nhiệm của người nộp đơn về tính trung thực của thông tin.
Trong bối cảnh vi phạm SHTT trên môi trường số ngày càng phổ biến, Luật đã bổ sung quy định riêng về trách nhiệm của doanh nghiệp trung gian và chủ quản nền tảng số. Các chủ thể này phải triển khai biện pháp bảo vệ quyền SHTT, phối hợp với cơ quan chức năng và chủ thể quyền khi phát hiện vi phạm...
Luật cũng mở rộng đáng kể phạm vi bảo hộ đối với các đối tượng mới, như kiểu dáng công nghiệp riêng phần, sản phẩm phi vật lý như giao diện đồ họa (GUI), biểu tượng (icon), tín hiệu cáp được mã hóa, đồng thời làm rõ ranh giới bảo hộ quyền tác giả khi loại trừ các đối tượng như ý tưởng, khẩu hiệu độc lập. Quy định về nhãn hiệu chứa tên “Việt Nam” cũng được siết chặt nhằm tránh bị chiếm dụng.
Mở đường công nghệ mới
Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Chuyển giao công nghệ (có hiệu lực từ ngày 1-4-2026) đã có nhiều thay đổi quan trọng, theo hướng cập nhật thực tiễn công nghệ mới, tăng cường quản lý và thúc đẩy đổi mới sáng tạo.
Luật điều chỉnh lại khái niệm chuyển giao công nghệ theo hướng mở rộng. Không chỉ dừng ở việc chuyển quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng, chuyển giao công nghệ được xác định là hoạt động gắn với khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo nhằm đưa công nghệ vào ứng dụng thực tiễn. Đồng thời, Luật bổ sung khái niệm “công nghệ xanh”, với các tiêu chí rõ ràng như tiết kiệm tài nguyên, giảm phát thải và thân thiện môi trường, góp phần phát triển bền vững.
Luật bổ sung hệ thống chính sách ưu tiên chuyển giao công nghệ. Theo đó, Nhà nước ưu tiên công nghệ chiến lược, công nghệ xanh, công nghệ phục vụ dự án quan trọng quốc gia; khuyến khích chuyển giao từ khu vực có vốn đầu tư nước ngoài sang doanh nghiệp trong nước; đồng thời áp dụng các ưu đãi về thuế, đầu tư, đất đai, tín dụng đối với dự án có nội dung chuyển giao công nghệ, đào tạo nhân lực và phát triển năng lực nghiên cứu.
Luật quy định rõ hơn quyền chuyển giao công nghệ. Việc đồng ý của chủ sở hữu phải thể hiện bằng văn bản hoặc hình thức hợp pháp khác; bên nhận được quyền cải tiến, phát triển và khai thác công nghệ theo quy định; đồng thời làm rõ việc xác lập, bảo vệ quyền sở hữu và sử dụng công nghệ, cũng như tách bạch giữa quyền công nghệ với quyền đối với sản phẩm, thiết bị chứa công nghệ.
Luật quy định chuyển tiếp chi tiết đối với hợp đồng, hồ sơ và dự án chuyển giao công nghệ trước thời điểm luật có hiệu lực, bảo đảm tính liên tục và tránh vướng mắc trong quá trình áp dụng.
Bảo đảm quyền của người bị trục xuất
Nghị định 59/2026 quy định hình thức xử phạt trục xuất, biện pháp tạm giữ người, áp giải người vi phạm theo thủ tục hành chính và quản lý người nước ngoài vi phạm pháp luật Việt Nam trong thời gian làm thủ tục trục xuất (có hiệu lực thi hành từ ngày 1-4-2026, thay thế Nghị định 142/2021 và bãi bỏ Điều 66 Nghị định 282/2025).
Nghị định mới bổ sung quyền của người bị trục xuất. Theo đó, người bị trục xuất được liên hệ, thông báo với cơ quan đại diện ngoại giao, lãnh sự của nước mà mình là công dân; được yêu cầu xem xét lại quyết định xử phạt trục xuất.
Nghị định 59/2026 cũng quy định cơ chế thi hành trục xuất trong trường hợp không có khả năng nộp phạt tiền. Khi người vi phạm không có tài sản hoặc không có khả năng tài chính để thi hành hình thức phạt tiền, đồng thời cần bảo đảm an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, thì được thi hành ngay hình thức xử phạt trục xuất và chấm dứt việc cưỡng chế sau khi đã trục xuất.
Dữ liệu người dân cung cấp có thể làm căn cứ để xác minh, xử phạt vi phạm hành chính
Nghị định 61/2026 quy định về danh mục, việc quản lý, sử dụng phương tiện, thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ và quy trình thu thập, sử dụng dữ liệu thu được từ phương tiện, thiết bị kỹ thuật do cá nhân, tổ chức cung cấp để phát hiện vi phạm hành chính (có hiệu lực thi hành từ ngày 1-4-2026).
Nghị định này tập trung vào quy định chuẩn hóa việc sử dụng dữ liệu do cá nhân, tổ chức cung cấp để phát hiện, xử lý vi phạm hành chính.
Nghị định quy định cụ thể việc cá nhân, tổ chức cung cấp dữ liệu thu được từ phương tiện, thiết bị kỹ thuật cho cơ quan có thẩm quyền thông qua nhiều hình thức như: trực tiếp, thư điện tử, cổng thông tin điện tử, ứng dụng định danh quốc gia (VNeID), dịch vụ bưu chính hoặc kết nối, chia sẻ dữ liệu qua nền tảng số. Đây là cơ sở pháp lý quan trọng để người dân tham gia phát hiện vi phạm trên môi trường số.
Nghị định đồng thời quy định rõ quyền và trách nhiệm của người cung cấp dữ liệu. Theo đó, người cung cấp được bảo đảm bí mật thông tin cá nhân; được yêu cầu thông báo kết quả xử lý; đồng thời phải cung cấp đầy đủ thông tin liên hệ, chịu trách nhiệm trước pháp luật về tính xác thực, toàn vẹn của dữ liệu và phối hợp với cơ quan chức năng khi được yêu cầu.
Một nội dung quan trọng khác là thiết lập tiêu chí pháp lý đối với dữ liệu được sử dụng làm căn cứ xử phạt. Dữ liệu phải thuộc lĩnh vực quản lý nhà nước theo quy định; không xâm phạm quyền riêng tư, danh dự, nhân phẩm; phản ánh khách quan, chính xác, trung thực về hành vi vi phạm, thời gian, địa điểm và đáp ứng yêu cầu về thời hạn sử dụng. Nếu đáp ứng các điều kiện này, dữ liệu được sử dụng làm căn cứ xác minh, phát hiện và xử phạt vi phạm hành chính.
Nghị định cũng mở rộng thẩm quyền cho Công an cấp xã trong phát hiện vi phạm hành chính về trật tự, an toàn giao thông đường bộ, bao gồm việc được trang bị, sử dụng phương tiện, thiết bị kỹ thuật và tiếp nhận dữ liệu do người dân cung cấp.
Về trình tự xử lý, Nghị định quy định thời hạn xác minh dữ liệu không quá 30 ngày, trường hợp phức tạp không quá 60 ngày. Sau khi xác minh, cơ quan có thẩm quyền phải kết luận vụ việc: Nếu có vi phạm thì lập biên bản, xử phạt hoặc chuyển hồ sơ; nếu không đủ căn cứ thì không xử phạt; nếu có dấu hiệu tội phạm hoặc dữ liệu được cung cấp có dấu hiệu làm giả, làm sai lệch thì chuyển cơ quan tiến hành tố tụng hình sự.
Làm rõ trách nhiệm của từng người vi phạm
Nghị định 69/2026 sửa đổi Nghị định 106/2025, quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ; có hiệu lực thi hành từ ngày 20-4-2026.
Nghị định bổ sung quy định về xử lý trong trường hợp vi phạm hành chính nhiều lần. Theo đó, trường hợp tổ chức, cá nhân vi phạm hành chính nhiều lần đối với một hành vi vi phạm trong một cơ sở thuộc diện quản lý về phòng cháy, chữa cháy (PCCC) thì không bị xử phạt từng hành vi vi phạm hành chính mà xử phạt một hành vi vi phạm hành chính áp dụng tình tiết tăng nặng.
Nghị định này làm rõ trách nhiệm pháp lý theo từng chủ thể thực tế sử dụng cơ sở. Cụ thể, các tổ chức cùng hoạt động trong một cơ sở, cũng như người thuê, mượn, ở nhờ đều có thể bị xử phạt tương ứng với phần trách nhiệm của mình, thay vì dồn trách nhiệm chung cho một chủ thể như trước.
Việc xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực PCCC và cứu nạn, cứu hộ (CNCH) có thể được thực hiện trên môi trường điện tử. Việc lập biên bản, ra quyết định, thi hành xử phạt có thể thực hiện online theo quy định về xử lý vi phạm hành chính.