Chính tại ngôi nhà này Bí thư Lê Duẩn đã chỉ đạo chiến lược, sắp xếp, tổ chức lực lượng (chuẩn bị lực lượng cho phong trào Đồng Khởi và đường mòn Hồ Chí Minh trên biển sau này), viết Đề cương cách mạng miền Nam, sau này chính là Nghị quyết 15/TW, một nghị quyết làm kim chỉ nam của cuộc cách mạng giải phóng dân tộc.
Nơi làm việc của ông Lê Duẩn
Ông Mười Trác (Nguyễn Văn Trác) sinh năm 1911, con út của một gia đình trung nông khá giả. Thời đó, nhà ba căn, hai chái, bao lam kiến trúc Huế… là thuộc hàng gia thế trong xã. Ông Mười Trác mất đã lâu, người con út của ông - Mười Khinh (Nguyễn Văn Khinh), sinh năm 1950, đang ở nhà này.
Ông Mười Khinh kể: “Hồi trước bác Chín (chỉ ông Lê Duẩn) ở đây, làm việc trong buồng, phía sau một cái tủ thờ lớn. Dưới tủ thờ chính là hầm bí mật. Bác ở đến đầu 1956 thì đi. Giặc đánh phá, gia đình ly tán, cha và chị phải qua Mỏ Cày lánh nạn. Ba người anh trai tham gia kháng chiến đều lần lượt hy sinh. Nói thiệt, tui cũng chẳng biết bác Chín là ai. Sau giải phóng, bác Chín về thăm, trời ơi, hóa ra là Tổng Bí thư! Bác thấy căn nhà cũ xuống cấp quá nên cho gia đình một số tiền. Cha mẹ tui mới cất căn nhà mà hiện nay đang ở. Căn nhà cũ gia đình sửa lại dùng làm nhà lưu niệm của bác Chín. Lúc bác Chín mất gia đình thờ luôn ở đó”.
Mười Khinh còn nhớ hồi đó chỉ mới chừng sáu tuổi. Trên bàn thờ lúc nào cũng có chuối cau, nhãn… Lâu lâu thèm ăn chạy vào nói lí nhí “bác Chín”, được ông già ôm hôn và cho trái chuối.

Mô hình ngôi nhà ông Mười Trác năm 1955. Ảnh: NGUYỄN NGỌC
Thời điểm 1955, đây là ở ấp Cái Da, xã Hiệp Hưng, huyện Giồng Trôm (sau này mới tách ra Hưng Lễ, Hưng Nhượng). Ông Mười Trác là Bí thư chi bộ ấp Cái Da, cũng là trung đội trưởng du kích ấp. Tề xã hầu hết là người của ta cài vào từ thời Mặt trận Liên Việt mà ông Mười một thời là chủ tịch mặt trận xã. Ngôi nhà cách trụ sở xã chừng 800 m và cách đồn Cái Da 1 km nhưng tụi lính đồn không dám mang lính vào nhà. Trong nhà có đội du kích bí mật bảo vệ bác Chín.
Người nhà nhớ lại: Hằng ngày, ông Mười Trác phải xuống bến đò Cái Da để nhận báo từ Sài Gòn gửi về. Lâu lâu, bác Chín xuống ghe câu tôm đi đâu đó mấy ngày mới về. Không ai được tiếp xúc với bác Chín, chỉ ngồi ngoài rèm mà trao đổi. Tất cả công việc phải thông qua thư ký riêng là chú Sáu Lùn.
Người thư ký
Người thư ký tên Sáu Lùn đã mất cách nay hai năm. Quyển sách Những năm tháng không thể nào quên của nhiều tác giả ở phòng Di tích của Sở Văn hóa-Thông tin tỉnh Bến Tre, vẫn góp nhặt nhiều thông tin về anh Sáu Lùn. Có một điều lạ, trong lý lịch của Sáu Lùn chỉ ghi: “Trong thời gian 1955-1956 có bảo vệ một đồng chí cán bộ của Đảng”, thế thôi. Sáu Lùn sau khi ra tù Côn Đảo, năm 1975, trở về làm cán bộ xã Phú Túc (huyện Châu Thành, Bến Tre) đến cuối đời. Anh tên thật là Trần Quang Bính, người làng gọi thân mật là Sáu Bọt chớ chẳng ai biết Sáu Lùn.
Năm 1954, chuẩn bị tập kết ra Bắc, đến Cà Mau thì anh được lệnh quay về Giồng Trôm, nhận nhiệm vụ làm thư ký riêng cho anh Mười Khước (Nguyễn Văn Khước) - Bí thư Tỉnh ủy. Vào một chiều tháng 2-1955, ông Mười Khước nói: “Đi với bác qua bên này có chút việc!” Sáu Lùn đi theo qua nhà ông Mười Trác. Bác Mười Khước dẫn Sáu Lùn vô buồng. Một lát sau, từ trong cánh tủ thờ, một ông già dáng người tầm thước bước ra. Mười Khước giới thiệu: “Đây là bác Chín, một cán bộ của Đảng. Từ nay Tỉnh ủy giao đồng chí thêm nhiệm vụ thư ký và bảo vệ cho bác Chín”.

Tổng Bí thư Lê Duẩn thăm ông Mười Trác. (Ảnh chụp lại từ nhà lưu niệm)
Lúc đó, Sáu Lùn vừa tròn 23 tuổi. Bác Chín hỏi chuyện Sáu Lùn hết sức thân mật, có điều bác nói giọng miền Trung, nhanh, khó nghe.
Lúc đầu anh làm đầu mối liên lạc, nhận văn kiện từ trên gửi về, đọc cho bác Chín nghe và viết thư của bác gửi đi. Cuối thư, bao giờ bác Chín cũng biểu anh viết hai chữ Nho to tướng (tam chi) nhưng chữ bác bảo viết không có dấu chấm trên đầu(1). Anh chẳng hiểu ý gì nhưng không dám hỏi. Đi lại như con thoi giữa bác Mười Khước và bác Chín được một tháng, một hôm bác Chín bảo:
- Cua bò lòi dấu! Phải để Sáu Lùn ở lại đây luôn.
Từ đó, Sáu Lùn ở lại luôn với bác Chín. Một hôm anh nhận được từ trên gửi về 200.000 đồng. Số tiền lớn lắm. Bác Chín dặn không được để trong mình, người khác biết thì lộ ngay. Tuần nào cũng vậy, cuối tuần hai bác cháu ngồi lại kiểm điểm. Bác dặn từng li, từng tí cách đi lại, những thói quen dễ sơ hở.
Anh không dám phê bình bác Chín, bác động viên anh cứ phê để bác cháu làm việc tốt hơn. Vậy là hai bác cháu thoải mái phê, tự phê. Bác Chín làm việc cật lực. Hằng ngày bác phải đọc bao nhiêu báo cáo và những tờ báo công khai ở Sài Gòn như: L ‘Humanité (Nhân Đạo), France Soir (Nước Pháp Buổi Chiều), Thần Chung, Điện Tín… Một hôm Bác đọc được mẩu tin “Norodom Shihanuc chuẩn bị về Campuchia”. Bác nói: Campuchia sẽ trung lập. Rồi bác bắt anh học thuộc mật lệnh, lên Sài Gòn truyền đạt cho Xứ ủy: “Xúc tiến ngay việc đưa người qua Campuchia xây dựng căn cứ!”. Sau chuyến đi Sài Gòn, bác Chín kêu anh xây dựng một điểm ở nổi, di động trên sông để phòng khi có biến động. Thực ra đó là cách vừa thay đổi quy luật hoạt động vừa điều nghiên cửa sông Hàm Luông ở Thạnh Phú để lập đường biển vận chuyển vũ khí. Năm 1946, đồng chí Mười Khước và đồng chí Ba Định (Nguyễn Thị Định) đã từng vượt biển ra Bắc xin vũ khí thành công. Và sau này chính đồng chí Mười Khước đã tổ chức vượt biển ra Bắc đầu tiên vào năm 1964, xây dựng bến tiếp nhận vũ khí ở Thạnh Phong, Thạnh Phú.

Bà Mười Trác hết sức vui mừng gặp lại “bác Chín”. (Ảnh chụp lại từ nhà lưu niệm)
Chia tay!
Bất ngờ, một hôm bác Chín kêu Sáu Lùn làm bữa cơm chia tay với gia đình bác Mười Trác. Trong bữa cơm ấy bác Chín kể chuyện Hàn Tín với bát cơm Phiếu Mẫu. Cả nhà ai cũng khóc. Anh với bác Chín về ở nhà bác Ba Qui ở xã Hương Điểm. Sáu Lùn nhớ lại: “Bác đọc cho tôi viết liên tục, có lúc viết không kịp về nhiệm vụ cách mạng XHCN miền Bắc, cách mạng giải phóng dân tộc ở miền Nam”. Ở đây một tháng, có dấu hiệu mật vụ tăng cường, anh lại cùng bác Chín dời về nhà ông Chín Luông ở Tân Hào. Chưa được mấy ngày, mật vụ lại đánh hơi, bác Mười Khước lại tổ chức cho bác Chín về Bình Khánh (Mỏ Cày - bên kia sông Hàm Luông). Từ đây, móc nối cho bác Chín lên Sài Gòn rồi qua Campuchia.
Trước khi chia tay với Tỉnh ủy Bến Tre, ông Lê Duẩn nhận định trước sau gì Mỹ Diệm cũng lật lọng, phá hoại Hiệp định Genève và khẳng định con đường cách mạng miền Nam chỉ bằng đấu tranh vũ trang. Ông còn hỏi cô Ba Định về “số gậy”(2) đang có và dặn phải giữ gìn. Không nên đấu tranh chính trị thuần túy dễ tổn thất mà phải biết kết hợp vũ trang cho thích hợp. Phải củng cố liên minh công nông bằng cách cấp đất cho người nghèo.
Bây giờ có thể hiểu vì sao phong trào Đồng Khởi nổ ra ở Bến Tre, bãi biển Thạnh Phong là bến tàu không số quan trọng ở Nam Bộ. Những bài học gần dân, thâm nhập thực tế để tìm ra hướng đi mới cho cách mạng vào thời kỳ gian khó nhất vẫn là bài học thời sự trong giai đoạn hiện nay.
| Lịch sử tỉnh Bến Tre còn ghi rõ: Ngày 23-10-1955, Tỉnh ủy Bến Tre chuẩn bị căn cứ cho Xứ ủy về hoạt động. Người chịu trách nhiệm xây căn cứ là đồng chí Năm Bào (Tào Gạo). Căn cứ chính là nhà ông Mười Trác và các điểm dự phòng xung quanh. Đồng chí Mười Chót, Thường vụ Tỉnh ủy, có nhiệm vụ rước đồng chí Lê Duẩn từ Cà Mau về Hiệp Hưng bằng đường thủy. |
NGUYỄN NGỌC - NGUYÊN VẸN