Dự thảo Luật Đô thị đặc biệt được kỳ vọng bứt phá cho TP.HCM. Song, rào cản liên kết vùng, logistics manh mún đang khiến doanh nghiệp gánh chi phí khổng lồ.
Nhận định về vấn đề này, Chuyên gia kinh tế - Tiến sĩ Tô Hoài Nam, Phó Chủ tịch thường trực Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam (VINASME) khẳng định: “Đây không chỉ là cơ chế cho một địa phương, mà là cơ hội vàng định hình lại không gian liên vùng thực chất, biến chủ trương vĩ mô thành quyền lợi thiết thực trên thương trường”.
Cần thống nhất cơ chế, thẩm quyền điều phối liên vùng
- Thưa ông, cộng đồng doanh nghiệp vùng Đông Nam Bộ đang phải gánh chi phí logistics khổng lồ do hạ tầng giao thông bị chia cắt bởi ranh giới hành chính. Từ thực tiễn, đâu là điểm nghẽn pháp lý cốt lõi và Luật Đô thị đặc biệt cần quy định cơ chế tháo gỡ ra sao để khơi thông?
+ Tiến sĩ Tô Hoài Nam: Điểm nghẽn lớn nhất, theo tôi quan sát nhiều năm qua, không chỉ nằm ở việc chúng ta thiếu một đại lộ, thiếu một con đường kết nối hay thiếu những cây cầu bắc qua sông. Câu chuyện cốt lõi ở đây là sự thiếu hụt đáng quan ngại một cơ chế điều phối thống nhất giữa quy hoạch giao thông, hệ thống cảng biển, kho bãi, cửa khẩu, khu công nghiệp và các trung tâm logistics. Sự rời rạc này tạo ra độ trễ rất lớn trong vận hành kinh tế.
Với doanh nghiệp nhỏ và vừa, hộ kinh doanh, mỗi điểm nghẽn hạ tầng dù nhỏ nhất đều lập tức chuyển hóa thành chi phí bằng tiền tươi thóc thật: chi phí vận tải tăng vọt, chi phí chờ đợi làm lỡ nhịp giao hàng, chi phí lưu kho bãi phình to và vô số chi phí tuân thủ thủ tục hành chính chéo ngoe giữa các tỉnh thành. Một lô hàng nông sản xuất khẩu nếu kẹt lại một ngày ở cửa ngõ TP có thể làm mất toàn bộ biên độ lợi nhuận của doanh nghiệp.
Do đó, Dự thảo luật cần quy định rõ cơ chế lập, phê duyệt và thực hiện danh mục các dự án hạ tầng liên vùng trọng điểm mang tính bắt buộc.
Phải có một đầu mối chịu trách nhiệm điều phối tối cao; có thời hạn xử lý vướng mắc pháp lý bằng ngày, bằng tháng rõ ràng; và đặc biệt phải có cơ chế giám sát độc lập để dòng chảy hàng hóa được thông suốt. Chúng ta phải chấm dứt tình trạng mỗi địa phương chỉ biết tối ưu trong ranh giới hành chính của mình mà bỏ mặc bức tranh toàn cảnh.
Ảnh: THUẬN VĂN
- Thực tế các hội đồng điều phối vùng thời gian qua vẫn mang nặng tính hình thức, chủ yếu hiệp thương, thiếu thực quyền. Để TP.HCM thực sự làm “nhạc trưởng” dẫn dắt, Luật Đô thị đặc biệt cần chế định những quy phạm pháp lý mạnh mẽ thế nào nhằm chấm dứt triệt để tư duy cục bộ?
+ Đúng là hội đồng vùng lâu nay đang thiếu thực quyền một cách đáng quan ngại vì các quy định hiện hành chủ yếu chỉ dừng lại ở mức độ trao đổi, hội chẩn, khuyến nghị. Hội đồng chưa được giao quyền quyết định ngân sách, quyền phân công nhiệm vụ dứt khoát và chế tài kiểm tra việc thực hiện của từng địa phương.
Để TP.HCM thực sự phát huy vai trò đầu tàu, Dự thảo luật cần chế định rõ thẩm quyền điều phối liên vùng đối với các vấn đề có tính lan tỏa cốt tử như giao thông vành đai, mạng lưới logistics, xử lý môi trường, đào tạo cung ứng lao động, dữ liệu chuyển đổi số và xúc tiến đầu tư quốc tế.
Tuy nhiên, tôi muốn nhấn mạnh rằng: quyền điều phối không nên và không được phép hiểu là quyền áp đặt mệnh lệnh hành chính khiên cưỡng. Đó phải là quyền tổ chức thực thi được xác định trên cơ sở khoa học đo lường được, phù hợp với từng đặc điểm, lợi thế của mỗi địa phương. Nó phải đi kèm với sự ràng buộc trách nhiệm pháp lý chặt chẽ, bảo đảm tối đa lợi ích chung của cả Vùng kinh tế nhưng vẫn phải tôn trọng và phát huy lợi thế hợp pháp, đặc thù của từng tỉnh bạn.
Đầu tư vượt ranh giới đòi hỏi minh bạch
- Nút thắt lớn nhất của liên kết vùng là ngân sách địa phương này không được đầu tư hạ tầng trên đất địa phương khác. Nếu dự thảo luật cho phép rót vốn vượt ranh giới, thì bài toán tỷ lệ góp, trách nhiệm vận hành cần được quy định chi tiết ra sao để minh bạch, khả thi?
+ Nút thắt này đã trói buộc chúng ta quá lâu. Nếu Luật Đô thị đặc biệt dũng cảm cho phép đầu tư vượt địa giới hành chính, thì ngay lập tức cần luật hóa ba nguyên tắc nền tảng: thứ nhất, vốn đi theo lợi ích vùng; thứ hai, trách nhiệm đi theo thẩm quyền được giao; và thứ ba, vận hành đi theo tiêu chuẩn kỹ thuật thống nhất.
Cụ thể, một dự án vành đai hay tuyến metro mang lại lợi ích kinh tế cho nhiều địa phương thì phải được phép dùng ngân sách của nhiều địa phương phối hợp lại, cộng hưởng cùng vốn trung ương, vốn đầu tư tư nhân (PPP) và các nguồn tín dụng hợp pháp khác để cùng đầu tư.
ẢNH: THUẬN VĂN
Tỷ lệ cơ cấu kinh phí hay phần vốn góp, quyền quản lý khai thác sau đầu tư, nghĩa vụ bảo trì duy tu, phân chia rủi ro tài chính và cơ chế kiểm toán nhà nước phải được xác định rành mạch ngay từ khi phê duyệt quyết định chủ trương đầu tư ban đầu.
Có như vậy mới tạo ra sự minh bạch tuyệt đối, tránh tình trạng địa phương bỏ tiền góp vốn nhưng không có tiếng nói trong quản trị, hoặc ngược lại, địa phương ung dung hưởng lợi từ hạ tầng đi qua nhưng lại thoái thác việc chia sẻ trách nhiệm tài chính.
Chia sẻ lợi ích giúp liên kết bền vững
- Bản chất liên kết vùng không chỉ san sẻ trách nhiệm mà cốt lõi là phân chia lợi ích. Khi logistics đồng bộ, nguồn thu ngân sách sẽ dịch chuyển. Vậy cần thiết kế cơ chế pháp lý nào trong dự thảo để điều tiết, chia lại miếng bánh này thật công bằng, không triệt tiêu lợi thế tỉnh bạn?
+ Liên kết vùng muốn đi đường dài và bền vững thì bắt buộc phải xử lý bằng được bài toán chia sẻ lợi ích. Đây là quy luật kinh tế thị trường. Khi hạ tầng xuyên suốt liền mạch, doanh thu bán lẻ, giá trị thặng dư đất đai, dịch vụ cung ứng, nguồn thu từ cảng, kho bãi và đặc biệt là nguồn thu ngân sách từ thuế doanh nghiệp có thể dịch chuyển tự do từ địa phương này sang địa phương khác.
Vì vậy, Dự thảo luật cần có cơ chế phân chia lợi ích một cách định lượng theo tỷ lệ đóng góp thực tế và mức độ hưởng lợi đo lường được, chứ không chỉ thu thuế theo nơi đặt trụ sở hay nơi phát sinh nguồn thu cuối cùng như hiện nay.
Cụ thể, chúng ta hoàn toàn có thể thiết kế một định chế tài chính mới như "Quỹ phát triển hạ tầng vùng", thiết lập cơ chế hoàn trả một phần nguồn thu ngân sách tăng thêm từ các cực tăng trưởng, hoặc tạo lập cơ chế điều tiết lại tài chính cho những địa phương phải hy sinh quỹ đất nông nghiệp, chịu tác động nặng nề về môi trường, hay gánh vác áp lực tái định cư cho toàn vùng.
Đây chính là cách hành xử công bằng về mặt thể chế, giúp các tỉnh cùng nắm tay nhau tiến lên mà không làm triệt tiêu động lực cạnh tranh thu hút đầu tư của bất kỳ địa phương nào.
Ảnh: THUẬN VĂN
- Đứng ở vai trò đại diện bảo vệ quyền lợi cho cộng đồng doanh nghiệp nhỏ và vừa, những chủ thể chịu tác động trực tiếp từ chính sách, nếu được hiến kế một điều khoản mang tính cốt tử vào luật để liên kết vùng không chỉ nằm trên giấy, ông sẽ kiến nghị đột phá pháp lý nào?
+ Theo tôi, điều khoản cốt tử, mang tính "chìa khóa" nhất cần được đưa vào dự thảo luật lần này phải được đúc kết ngắn gọn thế này: “Các dự án, chương trình, cơ chế chính sách có tác động liên vùng phải được thiết kế, thẩm định, quyết định, tổ chức thực hiện và giám sát theo nguyên tắc lợi ích vùng, trách nhiệm vùng và chia sẻ chi phí – lợi ích công bằng giữa các địa phương, doanh nghiệp và người dân chịu tác động.”
Nếu chúng ta chốt được điều khoản này và cụ thể hóa nó bằng các nghị định hướng dẫn, liên kết vùng sẽ không bao giờ còn là một khẩu hiệu cất trong ngăn kéo. Nó sẽ đóng vai trò như một màng lọc pháp lý, buộc mọi chính sách vĩ mô khi ban hành phải trả lời rành mạch bốn câu hỏi cốt tử: Ai là người làm? Ai là người trả tiền? Ai là người hưởng lợi? Và ai là người chịu trách nhiệm cuối cùng?
Đối với cộng đồng hàng trăm ngàn DNNVV và các hộ kinh doanh cá thể, sự sòng phẳng về mặt thể chế này chính là nền tảng vững chắc nhất để họ giảm thiểu các chi phí logistics vô lý, cắt giảm rủi ro về chi phí tuân thủ, tự tin mở rộng thị trường tiêu thụ và nâng cao năng lực cạnh tranh một cách thực chất trên chính sân nhà.
- Xin cảm ơn ông!
Ràng buộc xử lý bài toán môi trường
- Mở rộng không gian đô thị luôn tạo ra sức ép khổng lồ về môi trường, như xử lý rác hay lưu vực sông. Giữa áp lực tuân thủ tiêu chuẩn xanh ESG, dự thảo luật cần định chế ràng buộc trách nhiệm cứng rắn thế nào để các tỉnh cùng gánh vác, tránh tình trạng đùn đẩy trách nhiệm?
+ Tiến sĩ Tô Hoài Nam, chuyên gia kinh tế:Về vấn đề môi trường và tiêu chuẩn ESG, dứt khoát không thể duy trì tư duy địa phương này trải thảm đỏ thu hút đầu tư bằng mọi giá, còn địa phương lân cận lại phải è lưng gánh chịu khói bụi, ô nhiễm nguồn nước, ùn tắc giao thông hoặc suy giảm chất lượng sống của người dân.
Dự thảo luật cần quy định cực kỳ rõ ràng về trách nhiệm pháp lý liên đới đối với các vấn đề môi trường có tính chất liên vùng, đặc biệt là quản lý hệ sinh thái lưu vực sông, xử lý chất thải rắn liên tỉnh, kiểm soát khí thải từ chuỗi logistics, và quy chuẩn xanh cho các khu công nghiệp.
Tuy nhiên, tôi muốn đứng từ góc nhìn của cộng đồng DNNVV và hộ kinh doanh để nhấn mạnh rằng: yêu cầu tuân thủ ESG là xu thế tất yếu nhưng phải được thiết kế với một lộ trình chuyển đổi phù hợp với sức chịu đựng của doanh nghiệp. Cần chuẩn hóa các mẫu biểu báo cáo sao cho đơn giản, giữ chi phí tuân thủ ở mức hợp lý và cung cấp các gói hỗ trợ kỹ thuật cụ thể từ nhà nước.
Chúng ta không thể đặt một quy chuẩn Châu Âu quá cao ngay từ vạch xuất phát rồi biến việc tuân thủ thành gánh nặng đánh gục các doanh nghiệp nhỏ; nhưng đồng thời cũng tuyệt đối không thể hạ chuẩn môi trường đến mức làm nền kinh tế mất luôn cơ hội tham gia vào chuỗi cung ứng xanh toàn cầu.
Tiến sĩ TRẦN QUÝ, Viện trưởng Viện Phát triển Kinh tế số Việt Nam:
Cho phép TP.HCM đầu tư ngoài địa giới: Lời giải liên kết vùng
Để Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam thực sự là đầu tàu, TP.HCM không thể tự giam mình trong chiếc áo cơ chế chật hẹp. Không gian phát triển của thành phố phải được đặt trong sự gắn kết "sinh tử" với toàn vùng, đòi hỏi những cơ chế liên kết và chia sẻ lợi ích chưa từng có.
Thực tế phát triển thời gian qua bộc lộ một nghịch lý kìm hãm đà tăng trưởng: Các địa phương đang phát triển như những "ốc đảo". TP.HCM đang cạn kiệt không gian vật lý lẫn dư địa tăng trưởng cục bộ.
Để tạo ra sức bật mới, TP.HCM phải giữ vững vai trò hạt nhân, mở rộng không gian phát triển số, logistics và đổi mới sáng tạo lan tỏa sang Đồng Nai, Bình Dương, Bà Rịa - Vũng Tàu hay Tây Ninh.
Tuy nhiên, sự liền mạch về dữ liệu hay hệ sinh thái khởi nghiệp sẽ trở nên vô nghĩa nếu ách tắc ở hạ tầng thực. Cơ chế liên kết vùng phải giải quyết rốt ráo bài toán giao thông kết nối, mạng lưới logistics liên hoàn và quản lý môi trường chung. Một container hàng từ Tây Ninh xuống cảng Cái Mép - Thị Vải không thể tiếp tục bị cản trở bởi tư duy "đường tỉnh nào, tỉnh nấy làm". Tương tự, bài toán kẹt xe, ngập nước hay ô nhiễm không khí tại TP.HCM không thể giải quyết dứt điểm nếu thiếu vắng cái bắt tay đồng bộ của các tỉnh lân cận.
Nút thắt lớn nhất hiện nay để liên kết vùng mang tính khả thi nằm ở cơ chế điều phối và chia sẻ lợi ích. Đã đến lúc cần trao quyền cho cơ quan điều phối Vùng những quyết sách thực chất về phân bổ trách nhiệm đầu tư.
Đặc biệt, bài toán thể chế hóa "quyền đầu tư ngoài địa giới" cần sớm được hiện thực hóa – cho phép TP.HCM dùng ngân sách để đầu tư các dự án giao thông trọng điểm, hạ tầng công nghệ hay các trung tâm nghiên cứu (R&D) nằm trên địa bàn tỉnh khác nhưng mang lại lợi ích cho toàn vùng.
Đi kèm với đó là cơ chế chia sẻ nguồn lực và lợi ích minh bạch. Đơn cử, nếu TP.HCM bỏ vốn làm đường vành đai đi qua Long An hay Bình Dương, nguồn thu từ quỹ đất và dịch vụ logistics phát sinh dọc tuyến phải được phân chia hài hòa. Điều này mới tạo ra động lực liên kết thực chất, thay vì những biên bản ghi nhớ chỉ nằm trên giấy.
Sự phát triển của TP.HCM không thể tách rời toàn Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam. Khi các rào cản hành chính được gỡ bỏ, các nguồn lực xã hội được điều phối bởi một cơ chế cấp vùng có thực quyền, tiềm năng khổng lồ của siêu vùng kinh tế này mới thực sự được đánh thức và cất cánh.
Tiến sĩ PHẠM VIẾT THUẬN, Viện trưởng Viện Kinh tế Tài nguyên và Môi trường:
Trao quyền tự quyết để TP.HCM dẫn dắt liên kết vùng
Để Thành phố Hồ Chí Minh thực sự hoàn thành sứ mệnh hạt nhân dẫn dắt và tạo động lực liên kết vùng, một cơ chế pháp lý chắp vá sẽ không bao giờ là đủ. Bứt phá thể chế không nằm ở việc nới lỏng từng phần, mà phải trao quyền tự quyết toàn diện để thành phố đủ sức tháo gỡ những điểm nghẽn kìm hãm cả khu vực.
Nút thắt lớn nhất của các dự án hạ tầng liên vùng hiện nay chính là sự chồng chéo của các quy trình pháp luật thông thường. Khi một dự án giao thông hoặc môi trường mang tính liên kết vắt ngang qua nhiều địa phương, sự chậm trễ trong các khâu phê duyệt từ trung ương thường làm lỡ nhịp thu hút đầu tư.
Để giải quyết triệt để rào cản này, cần xây dựng một Luật Đô thị đặc biệt được Quốc hội thông qua, trong đó giao quyền cho TP.HCM tự quyết mọi chính sách thông qua Nghị quyết của Hội đồng nhân dân Thành phố. Ủy ban nhân dân Thành phố sẽ là cơ quan ban hành quy chế thực hiện nhiệm vụ.
Đặc biệt, một nguyên tắc mang tính phá vỡ lối mòn: Mọi xung đột với các luật khác thì Thành phố được quyền thực hiện theo Nghị quyết đã ban hành, trong khi Trung ương và các bộ ngành chỉ đóng vai trò giám sát.
Khi có được sự tự chủ này, HĐND TP.HCM sẽ có đủ thẩm quyền để điều phối các nguồn lực khổng lồ hướng tới các dự án liên kết vùng mà không sợ rào cản từ các luật chuyên ngành khác. Tuy nhiên, để cơ quan dân cử và đội ngũ cán bộ dám đưa ra những quyết sách "vượt rào" vì sự nghiệp chung, cần có một cơ chế bảo vệ vững chắc.
Do đó, đề xuất nâng cao vai trò của HĐND Thành phố trong việc ban hành Nghị quyết dựa trên cơ sở tham mưu của các tổ chuyên gia pháp luật. Đột phá nhất chính là kiến nghị miễn trừ trách nhiệm hình sự đối với các đề xuất hành động vì cái chung, vì sự phát triển của thành phố mà không vì lợi ích cá nhân. Đây chính là "tấm khiên" pháp lý bảo vệ những ý tưởng táo bạo trong việc kiến tạo không gian kinh tế liên vùng.
Đúc kết lại, mục tiêu tối thượng của Luật Đô thị đặc biệt dành cho TP.HCM phải xoay quanh ba tiêu chí cốt lõi: tự quyết, tự chủ và tự chịu trách nhiệm trước Trung ương về điều hành phát triển kinh tế - xã hội. Thành phố phải được giảm 100% sự phụ thuộc vào các quy trình và trình tự pháp luật thông thường như hiện nay, ngoại trừ các chính sách liên quan đến an ninh quốc phòng. Chỉ khi được tháo gỡ hoàn toàn sợi dây ràng buộc về mặt thủ tục, TP.HCM mới có thể phản ứng nhanh nhạy, dẫn dắt các dòng vốn đầu tư và biến khát vọng siêu liên kết vùng kinh tế trọng điểm phía Nam từ bản vẽ trở thành hiện thực sống động.
Tiến sĩ ĐINH HỒNG KỲ, Chủ tịch Công ty Secoin, Chủ tịch Hiệp hội Xây dựng và Vật liệu xây dựng TP HCM (SACA):
TP.HCM cần không gian thể chế mở để cạnh tranh toàn cầu
Không gian phát triển của Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay đã vượt xa những đường ranh giới hành chính truyền thống. Điểm mấu chốt của Luật Đô thị đặc biệt không nằm ở việc Thành phố được cơi nới thêm bao nhiêu cơ chế, mà là liệu có đủ năng lực thể chế để cạnh tranh sòng phẳng với các siêu đô thị toàn cầu hay không. Đặt trong bối cảnh dân số tiến gần mốc 14 triệu người và đóng góp 1/4 GDP cả nước, một nghịch lý: Nếu hạ tầng, quản trị và thể chế không được "siêu kết nối", quy mô lớn sẽ trở thành áp lực nặng nề thay vì lợi thế.
Từ góc độ liên kết vùng, Luật Đô thị đặc biệt cần phải nhìn nhận TP.HCM như một hệ sinh thái phát triển vùng, thay vì chỉ là một địa giới hành chính độc lập. Các bài toán hóc búa nhất hiện nay như mạng lưới metro, trung tâm logistics, trung tâm tài chính, đổi mới sáng tạo, chống ngập hay kinh tế biển đều đã vượt khỏi phạm vi của riêng Thành phố.
Do đó, nếu không có một thiết chế điều phối vùng đủ mạnh, chúng ta sẽ tiếp tục sa lầy vào tình trạng đầu tư cắt khúc, hạ tầng thiếu đồng bộ và chi phí logistics cao kéo dài.
Để phá vỡ vòng luẩn quẩn này, TP cần có tư duy "phân quyền triệt để, toàn diện", nhưng đặt ra câu hỏi sắc sảo: Quyền có đi kèm trách nhiệm thực thi hay không, và hệ thống có tạo ra động lực để cán bộ dám quyết định hay không? Thành phố không thiếu vốn hay ý tưởng, mà thiếu tốc độ chuyển hóa quyết định thành hành động do mô hình "xin - chờ - hướng dẫn".
Giải pháp đưa ra là phải chuyển mạnh từ tư duy "kiểm soát quy trình" sang "quản trị theo kết quả". Điều này đòi hỏi một nền hành chính số thực chất, một hệ dữ liệu dùng chung, một đầu mối xử lý duy nhất và cơ chế truy cứu trách nhiệm theo thời hạn xử lý công việc.
Đặc biệt, để các mô hình kinh tế liên vùng như khu logistics tích hợp hay kinh tế đêm không chỉ nằm trên giấy, kiến nghị Luật cần có một chương riêng về "Cơ chế thử nghiệm chính sách có kiểm soát" (Regulatory Sandbox). Chuyên gia này đề xuất 5 nhóm cơ chế cụ thể: Thử nghiệm theo không gian địa lý (như Thủ Thiêm, Cần Giờ); Thử nghiệm theo ngành nghề mới có thời hạn (fintech, logistics không giấy tờ); Cơ chế "miễn trừ pháp lý có kiểm soát"; Cơ chế "thử nghiệm thất bại nhưng không bị hình sự hóa"; và Cơ chế đánh giá theo dữ liệu thời gian thực bằng AI.
Nếu Luật chỉ dừng ở việc bổ sung vài ưu đãi, "đầu tàu" kinh tế sẽ tiếp tục chạy trên "đường ray cũ". Chỉ khi sở hữu nền hành chính số dựa trên dữ liệu và không gian thể chế mở, TP.HCM mới thực sự chuyển sang "đường ray phát triển mới", tạo sức bật vĩ đại cho toàn bộ hệ sinh thái liên kết vùng.