Mộ cụ Phan Châu Trinh 100 năm tuổi giữa lòng TP.HCM
PHẠM HẢI
(PLO)- Khu mộ của nhà yêu nước Phan Châu Trinh tại phường Tân Sơn Nhất (TP.HCM) đã tồn tại tròn một thế kỷ, lưu giữ nhiều di vật, di bút và tư liệu quý về cuộc đời hoạt động cách mạng của ông.
Mộ của nhà yêu nước Phan Châu Trinh (1872–1926) tọa lạc số 9, đường Phan Thúc Duyện (phường 4, quận Tân Bình) nay là phường Tân Sơn Nhất, TP.HCM, với diện tích hơn 2.000 m², được bao bọc bởi tường rào kiên cố.
Nhà yêu nước Phan Châu Trinh, hiệu Tây Hồ, quê Quảng Nam, xuất thân trong gia đình võ quan triều Nguyễn. Ông từng sang Nhật Bản, Pháp để học hỏi, tìm con đường cứu nước; đồng thời nhiều lần diễn thuyết, yêu cầu chính quyền Pháp thay đổi chính sách cai trị tại Việt Nam. Ảnh: PHẠM HẢI Ngay từ cổng vào là tượng bán thân lớn của cụ Phan Châu Trinh. Phía sau là đền thờ được xây dựng mô phỏng kiến trúc đền cũ ở Đa Kao, với nền hình bát giác. Ảnh: PHẠM HẢI
Khu lưu niệm hiện gồm nhiều hạng mục như nhà văn phòng, nhà kho, đền thờ và khu lăng mộ.
Bên trong đền thờ treo hoành phi “Phan Tiên Sinh Từ”. Chính giữa là bàn thờ cụ Phan, phía sau có bức đại tự “Cách mạng tiên khu”, ý chỉ người tiên phong trong con đường cách mạng đầy gian nan. Ảnh: PHẠM HẢI
Hai bên đền thờ bố trí khu vực thờ gia quyến và bia ghi công đức, cùng tủ trưng bày các công trình nghiên cứu về ông. Ảnh: PHẠM HẢI
Mộ phần của cụ Phan Châu Trinh nằm ở vị trí trung tâm, có dạng hình chữ nhật. Mặt trước khắc dòng chữ: “Việt Nam chính trị cách mạng gia. Phan Châu Trinh tiên sinh chi mộ. Quốc dân đồng kính tạo”. Ảnh: PHẠM HẢI Đối diện khu mộ là nhà lưu niệm, nơi trưng bày nhiều di vật, di bút, trước tác cùng các tư liệu quý phản ánh cuộc đời hoạt động cách mạng của cụ Phan. Ảnh: PHẠM HẢI Những hình ảnh đám tang nhà yêu nước Phan Châu Trinh năm 1926 thu hút hàng chục nghìn người dân Sài Gòn khi ấy tham dự, trở thành một trong những sự kiện chính trị - xã hội lớn, thể hiện lòng kính trọng và tinh thần yêu nước sâu sắc. Ảnh: PHẠM HẢI
Không gian thư viện tại khu lưu niệm mộ cụ Phan Châu Trinh lưu giữ nhiều sách, tài liệu, di bút quý, phản ánh tư tưởng canh tân, tinh thần khai dân trí và hành trình tìm đường cứu nước của cụ. Ảnh: PHẠM HẢI Giữa khu lưu niệm nổi bật bức tượng bên cạnh dòng chữ “Khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh”. Ảnh: PHẠM HẢI
Ba nhà yêu nước Huỳnh Thúc Kháng, Phan Thúc Duyện và Trần Quý Cáp được tạc tượng tại khuôn viên lưu niệm, góp phần tôn vinh tinh thần đoàn kết và chí hướng cải cách vì dân tộc. Ảnh: PHẠM HẢI
Trải qua 100 năm tồn tại, khu lăng mộ không chỉ là nơi an nghỉ của một nhà yêu nước tiêu biểu mà còn là địa chỉ lịch sử, góp phần giáo dục truyền thống cho các thế hệ hôm nay.
Nhà yêu nước Phan Châu Trinh (hiệu Phan Tây Hồ) sinh ngày 9-9-1872 tại huyện Tiên Phước, Quảng Nam, trong một gia đình võ quan triều Nguyễn. Ông là một trong những nhân vật tiêu biểu của phong trào yêu nước đầu thế kỷ XX.
Năm 1900, ông đỗ cử nhân, năm sau đỗ Phó bảng. Đến năm 1902, ông vào học Trường Hậu bổ, sau đó ra làm Thừa biện Bộ Lễ. Tuy nhiên, chỉ một thời gian ngắn, ông từ quan để dấn thân vào con đường hoạt động yêu nước.
Trong hành trình tìm đường cứu nước, nhà yêu nước Phan Châu Trinh đã sang Nhật Bản (1905) và sang Pháp (1911) nhằm học hỏi, tìm giải pháp thoát khỏi ách cai trị của thực dân. Các năm 1906, 1919 và 1920, ông ba lần gửi thư yêu cầu chính quyền Pháp thay đổi chính sách cai trị tại Việt Nam và Đông Dương.
Năm 1907, ông hoạt động mạnh tại Nam Trung Bộ, sau đó ra Hà Nội tham gia giảng dạy tại Đông Kinh nghĩa thục, nhiều lần diễn thuyết về con đường canh tân đất nước.
Trong quá trình hoạt động, ông nhiều lần bị bắt và giam giữ: Năm 1908 bị bắt tại Hà Nội và bị đày ra Côn Đảo; năm 1910 được ân xá nhưng bị quản thúc tại Mỹ Tho; năm 1914 tiếp tục bị bắt giam tại nhà tù Santé (Pháp).
Đầu năm 1926, cụ Phan Châu Trinh lâm bệnh nặng và qua đời lúc 21 giờ 30 ngày 24-3-1926 tại Sài Gòn.
Năm 2007, Giải thưởng Văn hóa Phan Châu Trinh lần đầu được trao nhằm tôn vinh những cá nhân có đóng góp xuất sắc trong các lĩnh vực giáo dục, nghiên cứu văn hóa, Việt Nam học và dịch thuật. Quỹ Văn hóa Phan Châu Trinh do bà Nguyễn Thị Bình làm Chủ tịch và Giáo sư Chu Hảo là Phó Chủ tịch sáng lập.