Họ là những người giữ lửa, kết nối trong và ngoài nước, góp phần đưa các chính sách đến gần hơn với kiều bào, tạo dựng niềm tin cùng nhau.
du lịch và hình ảnh đất nước Việt Nam tới bạn bè quốc tế. Ảnh: TL
Người dựng xây “mái nhà chung” cho kiều bào
Từ một chủ tịch phường về công tác tại Ủy ban về người Việt Nam ở nước ngoài TP.HCM, anh Nguyễn Vũ Minh Hoàng - nay là tổng thư ký Hội Liên lạc với người Việt Nam ở nước ngoài TP.HCM - thừa nhận ban đầu anh đến với công việc này theo sự phân công. Thế nhưng sau tám năm gắn bó, sự ngỡ ngàng ban đầu đã chuyển thành niềm đam mê và thấu cảm sâu sắc. Anh nhận ra kiều bào chính là nguồn lực khổng lồ để phát triển đất nước và quảng bá hình ảnh Việt Nam ra thế giới.
Nguồn lực của cộng đồng dân tộc Việt Nam
Nghị quyết 36-NQ/TW năm 2004 của Bộ Chính trị khóa IX về công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài; Chỉ thị 45-CT/TW ngày 19-5-2015 của Bộ Chính trị về việc tiếp tục đẩy mạnh thực hiện Nghị quyết 36-NQ/TW; Kết luận 12-KL/TW năm 2021 của Bộ Chính trị về công tác người Việt Nam ở nước ngoài trong tình hình mới luôn khẳng định: “Người Việt Nam ở nước ngoài là bộ phận không tách rời và là một nguồn lực của cộng đồng dân tộc Việt Nam”.
Theo lãnh đạo TP.HCM, để giữ vững vị thế đầu tàu kinh tế của cả nước, bên cạnh nội lực còn có sự đóng góp vô cùng thiết thực của cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài. Bằng tâm huyết và tình cảm hướng về quê hương, kiều bào đã chuyển giao nhiều tri thức, kinh nghiệm quản lý lẫn nguồn lực vật chất quan trọng cho TP.
Kiều bào hào hứng tham dự buổi họp mặt mừng xuân Bính Ngọ 2026 tại TP.HCM. Ảnh: DƯƠNG KHANG
Nhận thức rõ tầm quan trọng này, ngay từ năm 1976, TP.HCM đã tiên phong thành lập các tổ chức chuyên trách (như Tổ chuyên trách công tác Việt kiều, sau đó là Ủy ban về người Việt Nam ở nước ngoài TP.HCM), thể hiện sự chăm lo và quan tâm đặc biệt, xuyên suốt qua các thời kỳ. Trong bối cảnh hội nhập sâu rộng, lãnh đạo TP.HCM nhìn nhận công tác kiều bào không chỉ đơn thuần là nhiệm vụ đối ngoại mà còn là trụ cột thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, khoa học công nghệ.
TP.HCM xác định cần hoàn thiện cơ chế phối hợp liên thông, đồng bộ. Các đơn vị phải xây dựng quy chế rõ ràng về trách nhiệm, đảm bảo thông tin xuyên suốt; đồng thời đẩy mạnh ứng dụng công nghệ để xây dựng nền tảng dữ liệu dùng chung về người Việt Nam ở nước ngoài.
Cùng với đó, tập trung xây dựng các cơ chế, chính sách mang tính đột phá để thu hút trí thức, chuyên gia, doanh nhân kiều bào tham gia vào các lĩnh vực trọng điểm như chuyển đổi số, đổi mới sáng tạo, tài chính, y tế, giáo dục.
TP.HCM cũng sẽ nâng cao chất lượng bảo hộ và hỗ trợ kiều bào. Chính quyền cam kết phối hợp chặt chẽ để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của kiều bào, cung cấp các dịch vụ hành chính công minh bạch, thuận tiện nhất… Tăng cường nghiên cứu, dự báo và tham mưu chiến lược; chủ động phân tích xu hướng di cư, đặc điểm cộng đồng theo từng khu vực để kịp thời đề xuất các sáng kiến hợp tác mới.
Từ những định hướng này, TP.HCM tin tưởng sẽ hiện thực hóa mục tiêu đưa TP.HCM trở thành đô thị thông minh, trung tâm tài chính - kinh tế - khoa học công nghệ của khu vực và là điểm đến hội tụ trí tuệ của kiều bào trên toàn thế giới.
THANH THÙY
Suốt những năm gắn bó với công tác kiều bào, hình ảnh đôi vợ chồng bươn chải hơn 50 năm ở Bắc Âu vẫn là ký ức không thể nào quên của anh. Dù cuộc sống ổn định, họ vẫn đau đáu nỗi nhớ quê và mặc định mình đã mất quốc tịch. Khi được anh hướng dẫn thủ tục xác minh quốc tịch theo quy định mới, ánh mắt họ rực sáng - một niềm hạnh phúc giản đơn nhưng vô cùng thiêng liêng.
Với anh Nguyễn Vũ Minh Hoàng, mỗi chuyến công tác ở nước ngoài là một cơ hội đáng quý để gặp gỡ, kết nối với đồng bào đang ở xa đất nước. Mỗi chuyến đi, anh luôn cố gắng để tham mưu, sắp xếp cuộc gặp với kiều bào dù thời gian ngắn ngủi. “Đó là điều họ cần. Một tiếng nói, một cái ôm, những cuộc trò chuyện của người con đất Việt trên nước bạn, với mỗi kiều bào luôn là sự gắn kết rất cần có. Tôi nghĩ đó cũng là cách người Việt trong và ngoài nước cùng nhau nuôi dưỡng tinh thần đoàn kết, tương thân tương ái” - anh Hoàng chia sẻ.
Thấu hiểu những khó khăn về thủ tục đầu tư hay cơ chế chưa rõ ràng, anh Hoàng không ít lần tự mình “gõ cửa” các cơ quan chức năng để tìm câu trả lời thỏa đáng cho kiều bào. Anh tự nhủ: “Mình sống ở đây còn thấy khó, kiều bào sẽ thấy khó gấp nhiều lần”.
Anh kể về trường hợp một du học sinh loay hoay mãi không làm được CCCD khi về nước. Hay một Việt kiều bế tắc với hồ sơ đầu tư do sự chồng chéo giữa các cơ quan. Trong những tình huống đó, anh Hoàng đã đích thân phân tích, liệt kê danh mục sở, ngành và trực tiếp cầm hồ sơ đi đôn đốc để có kết quả cuối cùng.
Dù Việt Nam đã cởi mở hơn về thể chế, anh Hoàng vẫn trăn trở khi những “khoảng trống” vẫn còn tồn tại khiến kiều bào chưa tiếp cận được chính sách. Việc thực thi đòi hỏi sự nhịp nhàng và uyển chuyển hơn để người Việt ở xa không cảm thấy đơn độc khi trở về. “Chủ trương đã có nhưng quan trọng là thực thi thế nào để kiều bào thấy đây thực sự là mái nhà đủ che nắng, che mưa. Để họ cảm nhận được sự kết nối và thấy mình là một phần không thể tách rời của đất nước” - anh Hoàng khẳng định.
Biến niềm tin thành hành động qua mạng lưới trí thức trẻ
PGS-TS Trần Lê Hưng (giảng viên Trường kỹ sư Paris, ĐH Gustave Eiffel, Pháp) chia sẻ từ dấu mốc tham dự Mạng lưới trí thức trẻ Việt Nam toàn cầu năm 2018, anh đã nhận thức rõ vai trò then chốt của thanh niên trong cách mạng công nghiệp 4.0. Đây không chỉ là sân chơi bổ ích mà còn là động lực để xây dựng một cộng đồng trí thức trẻ phát triển đúng hướng, lành mạnh.
Với tư cách thành viên Ban chủ nhiệm mạng lưới trí thức trẻ Việt Nam toàn cầu (nhiệm kỳ 2022-2027), PGS-TS Trần Lê Hưng đã không ngừng tìm kiếm các phương thức hoạt động mới như xây dựng các tọa đàm trực tuyến, đưa tiếng nói của trí thức trẻ về các vấn đề “nóng” của đất nước, hỗ trợ tổ chức hội thảo quốc tế chuyên ngành, kết nối các giáo sư người nước ngoài và Việt Nam. “Tất cả nỗ lực đó đều nhằm tạo dựng mạng lưới học thuật bền chặt, mang những bài toán thực tại của Việt Nam để cộng đồng trí thức cùng chung tay giải quyết” - PGS-TS Trần Lê Hưng khẳng định.
Dưới góc nhìn của anh, cộng đồng người Việt ở nước ngoài là nguồn lực nội sinh tối quan trọng để đất nước đột phá bằng khoa học công nghệ. Dù Đảng và Nhà nước luôn chú trọng công tác thu hút nhân tài nhưng trong bối cảnh “thế giới phẳng”, việc này vẫn gặp nhiều thách thức khách quan lẫn chủ quan.
PGS-TS Trần Lê Hưng nhìn nhận niềm tin của kiều bào không chỉ thể hiện qua lượng kiều hối hằng năm mà phải được hun đúc qua những chương trình hành động thực chất. Đó là việc kết nối chuyên gia với các tổ chức quốc tế, là sự hỗ trợ, tài trợ cho các dự án cụ thể tại quê nhà.
Trong giai đoạn đất nước cần lực lượng chất xám lớn để phát triển, cộng đồng chuyên gia và trí thức Việt Nam luôn sẵn sàng đồng hành để đưa đất nước “cất cánh”. Niềm tin ấy sẽ trở nên bền vững nhất khi được hiện thực hóa bằng những đóng góp thực tế và sự ghi nhận xứng đáng.
Cần những cầu nối kiên trì
Trong hành trình kết nối kiều bào, doanh nghiệp và nhà đầu tư với Việt Nam, điều tôi nhận ra là không có một “công thức chung” cho sự thành công. Tuy nhiên, luôn có ba yếu tố cốt lõi song hành: Mạng lưới - Niềm tin - Uy tín cá nhân.
Nhiều năm làm việc tại ĐH Inha và tham gia sâu rộng vào các hoạt động cộng đồng Việt - Hàn, tôi xây dựng được mạng lưới kết nối mạnh mẽ từ giới khoa học, chuyên gia đến các nhà đầu tư quốc tế. Nhưng rõ ràng, không phải cứ có danh sách liên hệ là có thể kết nối thành công. Mạng lưới chỉ thực sự có giá trị khi được duy trì bằng sự tương tác liên tục và mang lại lợi ích thực chất cho các bên. Nếu thiếu đi sự thấu hiểu và vận hành hiệu quả, những danh sách liên lạc dài dằng dặc cũng chỉ là những con số vô hồn trên mặt giấy.
Trong hợp tác quốc tế và đặc biệt là đầu tư, đối tác không chỉ nhìn vào cơ hội sinh lời mà còn nhìn vào người đứng ra kết nối. Niềm tin được xây dựng rất chậm nhưng có thể mất đi chỉ trong tích tắc. Vì vậy, tôi luôn kiên định với nguyên tắc: Thông tin phải chính xác, cam kết phải rõ ràng và tuyệt đối không “vẽ ra” những điều chưa chắc chắn. Khi đối tác thấy người kết nối nói đi đôi với làm, họ không chỉ quay lại mà còn trở thành những đại sứ, giới thiệu thêm nhiều nguồn lực khác cho đất nước. Bên cạnh đó, uy tín cá nhân khi được bảo chứng bởi các tổ chức như VKBIA sẽ tạo nên tính hệ thống, giúp nhà đầu tư yên tâm hơn thay vì chỉ làm việc với các cá nhân đơn lẻ.
Tuy nhiên, thực tế không phải lúc nào cũng trải hoa hồng. Tôi nhận ra những rào cản hiện hữu: Từ thủ tục pháp lý rườm rà đến sự khác biệt về văn hóa làm việc. Doanh nghiệp Hàn Quốc chú trọng tính kỷ luật, kế hoạch dài hạn; trong khi doanh nghiệp Việt Nam linh hoạt nhưng đôi khi thiếu hệ thống. Nếu không có người làm cầu nối để “dịch chuyển” các giá trị văn hóa này, hiểu lầm rất dễ xảy ra.
Đặc biệt, tâm lý “ngại về” của một bộ phận kiều bào là bài toán khó. Họ có thiện chí nhưng còn băn khoăn về cơ chế phối hợp và hiệu quả thực tế. Vì vậy, khoảnh khắc then chốt để thay đổi cục diện thường đến từ những hành động cụ thể: Một buổi làm việc cầu thị của lãnh đạo địa phương, một đối tác trong nước đủ năng lực, hay đơn giản là một dự án nhỏ nhưng thành công rực rỡ. Những ví dụ thành công cụ thể có sức thuyết phục mạnh mẽ hơn vạn lời nói suông.
Kiều bào, đặc biệt là những trí thức và chuyên gia làm việc lâu năm trong môi trường quốc tế, thường rất thận trọng. Điều họ cần không chỉ là một lời mời gọi thiết tha, mà là niềm tin rằng sự đóng góp của mình sẽ tạo ra giá trị thực sự. Tôi từng gặp một nhóm chuyên gia công nghệ Việt tại Hàn Quốc rất e dè với việc chuyển giao công nghệ do lo ngại vướng mắc cơ chế. Thay vì thuyết phục bằng lý thuyết, tôi dành thời gian phân tích từng dự án phù hợp với chuyên môn của họ, kết nối trực tiếp họ với các cơ quan quản lý và doanh nghiệp trong nước để trao đổi thẳng thắn, không qua trung gian. Quan trọng nhất là cam kết đồng hành trong suốt quá trình triển khai, không chỉ dừng ở việc giới thiệu xong là xong”. Khi các chuyên gia thấy mô hình vận hành minh bạch, đóng góp được ghi nhận nghiêm túc, họ từ chỗ dè dặt đã trở nên chủ động, thậm chí lôi kéo thêm đồng nghiệp cùng tham gia.
Qua những va vấp và thành công, tôi nhận ra rằng: Niềm tin đến từ trải nghiệm thực tế. Nhiều chuyên gia kiều bào không đặt nặng vấn đề đãi ngộ, cái họ cần là một môi trường chuyên nghiệp - nơi ý kiến của họ được xem xét nghiêm túc và có cơ hội triển khai.
Để các chính sách thu hút nhân tài không chỉ nằm trên giấy, rất cần những “cầu nối” kiên trì ở giữa để giải thích, điều chỉnh kỳ vọng và giữ nhịp giữa các bên. Khi kiều bào thấy mình có người đồng hành, thấy mình thực sự là một phần của quê hương, nguồn lực sẽ tự tìm đến một cách bền vững. Đó chính là ý nghĩa thực sự của công tác kết nối kiều bào trong thời đại mới.
TS Trần Hải Linh, Ủy viên Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam, Chủ tịch
Hiệp hội Doanh nhân và đầu tư Việt Nam - Hàn Quốc (VKBIA)
Từ “trải thảm đỏ” đến cơ chế “hợp tác mở” với kiều bào
TS Trần Hải Linh, Ủy viên Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam, Chủ tịch Hiệp hội Doanh nhân và đầu tư Việt Nam - Hàn Quốc (VKBIA), nhận định nhiều kiều bào hiện có ý tưởng và nguồn lực dồi dào nhưng lại rơi vào tình trạng “không biết bắt đầu từ đâu”. Điều họ cần nhất lúc này không phải là những lời mời gọi chung chung, mà là một cơ chế “cửa vào rõ ràng. Kiều bào cần một đầu mối chuyên trách, chuyên nghiệp để dẫn đường cho các dự án từ bước ý tưởng đến thực thi.
Môi trường pháp lý minh bạch và nhất quán
Một trong những yếu tố sống còn để giữ chân nguồn lực kiều bào chính là môi trường pháp lý minh bạch và nhất quán. “Kiều bào - đặc biệt là doanh nhân và trí thức sẵn sàng đầu tư thời gian, công sức nhưng họ cần sự rõ ràng trong quy định, thủ tục và sự nhất quán trong thực thi. Không phải ưu đãi cao nhất, mà là niềm tin dài hạn vào môi trường đầu tư” - TS Trần Hải Linh khẳng định.
Cũng theo TS Trần Hải Linh, kiều bào mong muốn được trực tiếp tham gia vào các chương trình, dự án cụ thể, từ đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, giáo dục, đến phát triển đô thị. Họ không chỉ muốn đóng vai trò tư vấn, mà muốn được giao việc, được chịu trách nhiệm và được đánh giá bằng kết quả. Việt Nam cần xây dựng cơ chế tham gia thực chất, không hình thức.
Bên cạnh đó, Việt Nam cũng cần xây dựng môi trường làm việc theo chuẩn quốc tế. Điều này bao gồm cách quản trị dự án, cơ chế tài chính, quy trình phối hợp… Nhiều kiều bào đã quen với môi trường chuyên nghiệp nên họ kỳ vọng khi về nước làm việc cũng có thể phát huy năng lực trong một hệ sinh thái tương thích. Ngoài ra, kiều bào cũng cần sự kết nối với hệ sinh thái trong nước. Một cá nhân hay một doanh nghiệp kiều bào khó có thể tự mình triển khai mọi thứ. Họ cần được kết nối với doanh nghiệp trong nước, viện nghiên cứu, startup, chính quyền địa phương… để hình thành chuỗi giá trị hoàn chỉnh. Đây cũng là vai trò mà các tổ chức trung gian có thể hỗ trợ rất hiệu quả.
Riêng với TP.HCM, TS Trần Hải Linh cho rằng nếu TP đi đầu trong việc xây dựng một mô hình “hợp tác mở với kiều bào”, ví dụ như trung tâm đổi mới sáng tạo có sự tham gia của chuyên gia toàn cầu, hay các chương trình thí điểm (sandbox) cho công nghệ mới - thì không chỉ thu hút được nguồn lực kiều bào, mà còn tạo ra sức lan tỏa cho cả nước.
Đồng quan điểm, PGS-TS Trần Lê Hưng (giảng viên Trường kỹ sư Paris, ĐH Gustave Eiffel, Pháp) cho rằng TP.HCM cần chủ động đưa ra các vấn đề tồn đọng, những “bài toán khó” trên tinh thần nhìn thẳng vào sự thật để mời gọi kiều bào cùng giải quyết. Việc định hướng phát triển với tầm nhìn xa sẽ giúp cộng đồng người Việt ở nước ngoài hiểu rõ con đường của TP, từ đó sẵn sàng đóng góp sức mình. Không chỉ dừng lại ở tư vấn, kiều bào mong muốn được trực tiếp tham gia, được giao việc, được chịu trách nhiệm và đánh giá bằng kết quả thực tế. Sự ghi nhận đúng mức và tôn trọng thực chất sẽ là sợi dây gắn kết bền vững hơn bất kỳ chính sách ưu đãi tài chính nào.
Cần một điểm tựa thực chất hơn những lời mời gọi
Bên cạnh những cơ chế cứng về pháp lý, sự kết nối về mặt cảm xúc và văn hóa cũng đóng vai trò then chốt. Anh Nguyễn Vũ Minh Hoàng, Tổng thư ký Hội Liên lạc với người Việt Nam ở nước ngoài TP.HCM, trăn trở về việc xây dựng một “trung tâm hỗ trợ kiều bào”. Sau quá trình sáp nhập các đơn vị chuyên trách, việc hình thành một mái nhà chung là rất cần thiết. Đây không chỉ là nơi giải quyết các vướng mắc về thủ tục hành chính, mà còn là không gian gắn kết nghĩa đồng bào, để mỗi người Việt ở xa khi trở về đều cảm thấy mình có một điểm tựa, không hề cô độc trên chính quê hương mình.
Dưới góc nhìn của thế hệ trẻ, bạn Nguyễn Võ Mỹ Tâm (học viên thạc sĩ tại ĐH Thanh Hoa, Đài Loan) tin rằng dư địa phát triển của TP.HCM còn rất lớn ở các ngành công nghiệp văn hóa. Văn hóa không chỉ là bản sắc cần giữ gìn mà còn là “tài nguyên mềm” vô giá. Nếu biết kết nối những giá trị này với công nghệ và kinh tế sáng tạo, văn hóa sẽ trở thành lợi thế cạnh tranh mới, giúp rút ngắn khoảng cách và tạo dựng niềm tin giữa Việt Nam với bạn bè quốc tế. TP.HCM trong giai đoạn tới không chỉ được đánh giá bằng tốc độ tăng trưởng kinh tế, mà còn bằng khả năng biến sự đa dạng văn hóa thành sức hút toàn cầu.
Kiều bào hôm nay không chỉ muốn “đóng góp”, mà muốn trở thành một phần hữu cơ của quá trình phát triển. Khi TP.HCM tạo được cơ chế hợp tác mở và một môi trường sống cởi mở, nhân văn, kiều bào sẽ mang theo không chỉ nguồn lực tài chính, mà còn cả tri thức, mạng lưới và uy tín quốc tế để cùng chung tay xây dựng đất nước. Một khi niềm tin và sự gần gũi được tạo dựng, những cánh cửa cho thương mại, đầu tư và đổi mới sáng tạo cũng sẽ mở ra một cách tự nhiên và bền vững nhất.
THANH THÙY - DƯƠNG KHANG