Thời hạn thụ lý và xét xử đối với án dân sự

Năm ngoái, TAND quận 1 (TP.HCM) đã mở phiên tòa xử vụ tranh chấp “tiền thắng cược máy trò chơi có thưởng” giữa ông Ly Sam (quốc tịch Mỹ) với Công ty Liên doanh Đại Dương (công ty chủ quản của khách sạn Sheraton Sài Gòn).

Theo hồ sơ, ngày 25-10-2009, ông Ly Sam nạp 300 USD vào máy đánh bạc số 13 để tham gia trò chơi có thưởng của CLB Palazzo nằm trong khách sạn Sheraton Sài Gòn. Sau nhiều lần chơi thua, ông nhận được thông báo thắng với số tiền trúng thưởng hơn 55,5 triệu USD.

Các bên đứng nghe tuyên án trong phiên xử của TAND quận 1 về vụ trúng thưởng 55 triệu đô la. 

Bất ngờ, nhiều người khác cũng chạy đến xem. Lúc đó ông Ly Sam đã yêu cầu quản lý của CLB Palazzo ký vào biên bản ghi nhận kết quả nhưng không được chấp nhận. Ông Ly Sam bèn thu lại hình ảnh số tiền báo trên màn hình máy đánh bạc và lập biên bản trúng thưởng, lấy chữ ký của những người làm chứng.

Sau đó, phía Công ty Đại Dương vẫn không trả thưởng, cho rằng do máy số 13 bị sự cố nên kết quả trò chơi vô hiệu. Phía công ty cho biết để chứng minh máy bị hư, công ty đã tháo gỡ bo mạch của máy nhờ một đơn vị kiểm định của nước ngoài giám định. Kết quả giám định cho thấy số tiền trúng thưởng tối đa trên máy số 13 chỉ là 46.000 USD.

Cho rằng việc Công ty Đại Dương tự ý tháo gỡ bo mạch máy đánh bạc đem đi giám định là không khách quan, vào ngày 20-1-2010, ông Ly Sam đã nộp đơn khởi kiện ra TAND quận 1. Ông yêu cầu tòa buộc Công ty Đại Dương phải trả thưởng cho ông cùng khoản tiền lãi tương ứng với lãi suất ngân hàng trong thời gian phía bị đơn chậm thực hiện nghĩa vụ thanh toán...

Vụ kiện kéo dài hơn hai năm bởi tòa phải làm thủ tục ủy thác tư pháp quốc tế để làm rõ một số vấn đề của vụ kiện. Phía các đương sự cũng tốn nhiều thời gian tìm chứng cứ, hợp pháp hóa lãnh sự để cung cấp cho tòa.

Phát biểu tại tòa, kiểm sát viên nhận định tòa án có một số vi phạm tố tụng cần phải nhắc nhở rút kinh nghiệm. Bộ luật Tố tụng dân sự quy định thời hạn chuẩn bị xét xử của vụ án dân sự là bốn tháng, kể từ ngày thụ lý vụ án. Đối với vụ án có tính chất phức tạp hoặc do trở ngại khách quan thì có thể quyết định gia hạn thời hạn chuẩn bị xét xử nhưng không quá hai tháng. Nhưng trong vụ án này, tòa đã để đến 34 tháng mới đưa ra xét xử là vi phạm về thời hạn luật định. Hồ sơ án thể hiện có quyết định hoãn phiên tòa không nêu lý do. Biên bản hoãn phiên tòa vào tháng 6-2012 không thể hiện đúng bản chất sự việc. Tòa cho rằng hoãn phiên tòa để VKS có thời gian nghiên cứu vụ án nhưng thực tế hồ sơ chỉ chuyển giao cho VKS trước năm ngày mở phiên tòa.

Thời hạn thụ lý và đưa ra xét xử vụ án dân sự cấp sơ thẩm được quy định như sau:

Thời hạn thụ lý và xét xử đối với án dân sự ảnh 2

1. Thụ lý vụ án

- TAND nhận đơn khởi kiện do đương sự nộp trực tiếp tại tòa án hoặc gửi qua đường bưu điện và phải ghi vào sổ nhận đơn. Trong thời hạn năm ngày làm việc kể từ ngày nhận được đơn khởi kiện, tòa án phải xem xét và có một trong các quyết định sau đây: Tiến hành thủ tục thụ lý vụ án nếu vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của mình; chuyển đơn khởi kiện cho tòa án có thẩm quyền và báo cho người khởi kiện, nếu vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của tòa án khác; Trả lại đơn khởi kiện cho người khởi kiện, nếu việc đó không thuộc thẩm quyền giải quyết của tòa án.

Tòa án trả lại đơn khởi kiện trong các trường hợp sau đây: Thời hiệu khởi kiện đã hết; người khởi kiện không có quyền khởi kiện hoặc không có đủ năng lực hành vi tố tụng dân sự; sự việc đã được giải quyết bằng bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của tòa án hoặc quyết định đã có hiệu lực của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, trừ trường hợp vụ án mà tòa án bác đơn xin ly hôn, xin thay đổi nuôi con, thay đổi mức cấp dưỡng, mức bồi thường thiệt hại hoặc vụ án đòi tài sản cho thuê, cho mượn, đòi nhà cho thuê, cho mượn, cho ở nhờ mà tòa án chưa chấp nhận yêu cầu do chưa đủ điều kiện khởi kiện; hết thời hạn được thông báo quy định tại khoản 2 Điều 171 của Bộ luật Tố tụng dân sự mà người khởi kiện không đến tòa án làm thủ tục thụ lý vụ án, trừ trường hợp có lý do chính đáng; chưa có đủ điều kiện khởi kiện; vụ án không thuộc thẩm quyền giải quyết của tòa án.

- Trường hợp thụ lý tòa án: Sau khi nhận đơn khởi kiện và tài liệu, chứng cứ kèm theo, nếu xét thấy vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của tòa án thì tòa án phải thông báo ngay cho người khởi kiện biết để họ đến tòa án làm thủ tục nộp tiền tạm ứng án phí trong trường hợp họ phải nộp tiền tạm ứng án phí. Tòa án dự tính số tiền tạm ứng án phí, ghi vào phiếu báo và giao cho người khởi kiện để họ nộp tiền tạm ứng án phí. Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được giấy báo của tòa án về việc nộp tiền tạm ứng án phí, người khởi kiện phải nộp tiền tạm ứng án phí. Tòa án thụ lý vụ án khi người khởi kiện nộp cho tòa án biên lai nộp tiền tạm ứng án phí. Trong trường hợp người khởi kiện được miễn hoặc không phải nộp tiền tạm ứng án phí, án phí thì tòa án phải thụ lý vụ án khi nhận được đơn khởi kiện và tài liệu, chứng cứ kèm theo.

- Trong thời hạn ba ngày làm việc kể từ ngày thụ lý vụ án, tòa án phải thông báo bằng văn bản cho bị đơn, cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến việc giải quyết vụ án, cho viện kiểm sát cùng cấp về việc tòa án đã thụ lý vụ án.

2. Đưa vụ án ra xét xử

- Chuẩn bị xét xử: Điều 179 Bộ luật Tố tụng dân sự quy định thời hạn chuẩn bị xét xử là bốn tháng kể từ ngày thụ lý vụ án. Đối với vụ án có tính chất phức tạp hoặc do trở ngại khách quan thì chánh án tòa án có thể quyết định gia hạn thời hạn chuẩn bị xét xử nhưng không quá hai tháng.

Trong thời hạn chuẩn bị xét xử, tùy từng trường hợp, tòa án ra một trong các quyết định sau đây: Công nhận sự thỏa thuận của các đương sự; tạm đình chỉ giải quyết vụ án; đình chỉ giải quyết vụ án; đưa vụ án ra xét xử.

Trong thời hạn một tháng kể từ ngày có quyết định đưa vụ án ra xét xử, tòa án phải mở phiên tòa; trong trường hợp có lý do chính đáng thì thời hạn này là hai tháng. Quyết định đưa vụ án ra xét xử phải được gửi cho các đương sự, viện kiểm sát cùng cấp ngay sau khi ra quyết định.

Nguyệt San Pháp Luật

Đừng bỏ lỡ

Video đang xem nhiều

Đọc thêm