TAND tỉnh Cà Mau vừa qua đã phát hành bản án phúc thẩm về tranh chấp yêu cầu bồi thường thiệt hại về tài sản giữa nguyên đơn là bà ĐTK và bị đơn là ông TVH.
Yêu cầu bồi thường bãi sò huyết bị hư hại
Theo hồ sơ, ngày 21-1-2024, bà K thuê của em gái một phần đất bãi bồi mặt tiền để nuôi trồng thủy sản. Ngày 15-1-2025, bà K dùng phần đất này để nuôi sò huyết giống, khu vực nuôi sò được bao xung quanh bằng lưới mành.
Đến ngày 17-3-2025, sò nuôi được khoảng 3 tháng thì bà phát hiện ông H thuê xáng vào nạo vét phần bãi bồi nuôi sò làm thiệt hại phần sò nuôi của bà. Số tiền thiệt hại là 33,44 triệu đồng.
Thời điểm xáng múc đất của ông H thì bà K không có mặt ở nhà vì đi nuôi con gái ở bệnh viện. Nay bà K yêu cầu ông H phải bồi thường thiệt hại về tài sản cho bà với số tiền 33,44 triệu.
Bị đơn xác định ngày 6-2-2025 âm lịch, ông có thuê chủ xáng cuốc cải tạo vuông, sau đó xáng tiếp tục múc phần đất mặt tiền làm bờ bao, chuẩn bị nền cất chòi để canh tác vuông tôm. Thời điểm xáng cải tạo vuông thì ông H có mặt nhưng khi xáng múc phần đất mặt tiền thì ông H về nhà cách đó trên 1km.
Ông H cho rằng trong thời gian làm thuê cho ông thì xáng không có xâm phạm đến bãi sò của bà K. Sau đó, ông H về nhà nên không biết chủ cho xáng đi về hướng nào.
Đến thời điểm hiện nay, ông H thấy có dấu vết xáng cuốc đi qua phần bãi sò của bà K, việc có thiệt hại sò của bà K hay không thì ông không biết. Trường hợp xáng có gây thiệt hại cho bà K thì chủ xáng phải chịu trách nhiệm bồi thường.
Chủ xáng cuốc trình bày, tháng 3-2025 ông H thuê ông múc đất cải tạo vuông, khi múc xong ông điều khiển xáng ra sông. Sau đó, ông H có yêu cầu ông múc phần đất mặt tiền phía ngoài mé sông để be bờ ranh. Phần đất ông H yêu cầu ông múc cặp ranh với đất của em bà K. Ông điều khiển xáng cuốc múc đất không ai ngăn cản, khi múc xong bà K về nói xáng cuốc đã múc lên phần bãi nuôi sò của bà.
Sau này ông mới biết bà K khởi kiện yêu cầu ông H bồi thường tiền thiệt hại sò giống, ông xác định việc ông múc đất là do ông H yêu cầu, ông không có liên quan gì đến vụ án, yêu cầu Toà án không đưa ông tham gia vào vụ án. Ông xác định khi hoà giải tại địa phương ông có hứa sẽ hỗ trợ cho bà K 2 triệu đồng từ việc bà K bị thiệt hại về sò giống.
Tòa: ông H không xin phép chủ bãi sò, phải bồi thường
Xử sơ thẩm, TAND khu vực 5 - Cà Mau đã chấp nhận yêu cầu của bà K, buộc ông H phải bồi thường thiệt hại cho bà số tiền 33,44 triệu. Sau đó, bị đơn kháng cáo yêu cầu cấp phúc thẩm hủy toàn bộ bản án dân sự sơ thẩm.
Xử phúc thẩm, TAND tỉnh Cà Mau nhận định, bà K cung cấp cho toà án xác nhận bà có mua sò giống từ hợp tác xã sò huyết với số tiền 33,44 triệu. Ngoài ra em gái bà K là chủ phần đất xác định có việc cho bà K thuê phần đất để nuôi sò là đúng. Bà K đã cung cấp cho toà án giấy thoả thuận cho mướn đất vuông từ bà em gái. Từ đó tòa xác định việc bà K có mua sò giống và mướn phần đất của em để thả sò giống nuôi là thực tế có xảy ra.
Tòa dẫn các lời trình bày của bị đơn, chủ xáng cuốc như nêu trên, đồng thời dẫn lại biên bản xác minh bãi sò và ranh đất của ban nhân dân ấp, xác định có việc xáng múc theo đường ranh bãi và xáng bò ngang bãi sò của bà K.
Từ đó, tòa xác định có việc ông H thuê chủ xáng cuốc vào phần đất của ông để cải tạo vuông. Sau đó ông H có yêu cầu chủ xáng cuốc điều khiển xáng ra phần ngoài sông để be bờ cho ông, việc này gây ảnh hưởng đến phần đất nuôi sò của bà K.
Tòa cho rằng chủ xáng thực hiện việc múc đất theo phần việc mà ông H thuê là cải tạo vuông của ông H, việc xáng đi qua bãi sò của bà K cũng là do ông H chỉ đường.
Do phần đất mà xáng múc lên là phần đất ranh giữa đất của ông H và em bà K, nếu ông H không yêu cầu thì chủ xáng cũng không thực hiện việc múc đất gây ảnh hưởng đến bãi nuôi sò của bà K.
Mặt khác, khi chỉ đường cho xáng đi qua phần đất của em bà K, phần bãi sò của bà K thì ông H không liên hệ xin phép chủ đất cũng như chủ bãi sò, do đó ông H phải chịu trách nhiệm khi xáng múc gây thiệt hại cho bãi sò của bà K.
Từ đó, tòa phúc thẩm cho rằng cấp sơ thẩm buộc ông H có trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho bà K là có cơ sở, nên đã tuyên bác kháng cáo của ông H, giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm.