NGHỊ ĐỊNH 145/2013 VỀ NGHI THỨC, NGHI LỄ

Từ ngữ không rõ nên nhiều cách hiểu

Sau khi báo Pháp Luật TP.HCM ngày 5-11 có bài “Bốn bất ổn của nghị định “nghi thức, nghi lễ””, TS Lê Hồng Sơn, Cục trưởng Cục Kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật (Bộ Tư pháp), đã có ý kiến với tư cách chuyên gia về nội dung Nghị định 145/2013 của Chính phủ.

Khi xem xét nội dung của nghị định, bản thân tôi có một số băn khoăn. Về căn cứ pháp lý, tuy hàm chứa nhiều nội dung đa ngành nhưng nghị định chỉ căn cứ Luật Tổ chức chính phủ, Luật Thi đua, khen thưởng, trong khi các quy định về thực hành tiết kiệm, chống lãng phí cũng là một căn cứ rất quan trọng.

Phân loại đối tượng thiếu hợp lý

Điều đầu tiên gây ấn tượng cho tôi đó là kết cấu các nội dung cơ bản trong nghị định này thiếu sự phân loại đối tượng một cách thích hợp. Đối tượng áp dụng bao gồm: cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức kinh tế, đơn vị vũ trang nhân dân. Nếu được tham gia căn chỉnh từ khi soạn thảo dự thảo của nghị định này, theo tôi, tốt nhất là chia làm hai nhóm cơ bản. Nhóm thứ nhất là các cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, đơn vị vũ trang nhân dân. Nhóm thứ hai là tổ chức xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội và tổ chức kinh tế. Riêng tổ chức kinh tế có phần vốn nhà nước như các tập đoàn, tổng công ty kinh tế nhà nước… nên xếp vào nhóm thứ nhất.

Cơ sở để chia hai nhóm này là căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ cơ bản khác nhau. Một bên được giao sử dụng quyền lực công để quản lý, tham gia quản lý nhà nước ở các lĩnh vực và mức độ khác nhau; trong quá trình hoạt động có sử dụng kinh phí từ ngân sách nhà nước để thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn. Bên còn lại, nói nôm na là kênh xã hội, người ta được thành lập, tổ chức và hoạt động trên nền tự quản, tự chủ về kinh phí ngân sách. Đối với nhóm này, quyền tự chủ về kinh phí, ngân sách và tổ chức các hoạt động nội bộ mang tính tự quản rất cao. Nhà nước chỉ nên can thiệp đối với nhóm này ở mức độ nhất định.

Từ ngữ không rõ nên nhiều cách hiểu ảnh 1

Để khắc phục tình trạng phô trương, lãng phí, nghị định cần quy định cụ thể đối với cơ quan công quyền, chi tiêu từ ngân sách nhà nước. Trong ảnh: Phát quà cho khách mời tại một lễ khởi công. Ảnh: HTD

Dễ tạo nhiều cách hiểu khác nhau

Về chủ trương, quan điểm, tôi hoàn toàn đồng tình với việc ban hành nghị định này để đặt ra các chuẩn cần thiết trong việc tổ chức ngày kỷ niệm; nghi thức trao tặng, đón nhận hình thức khen thưởng, danh hiệu thi đua; nghi lễ đối ngoại và đón, tiếp khách nước ngoài với mục đích khắc phục tình trạng phô trương, lãng phí, tiêu cực và sâu xa một chút, ẩn hiện trong đó kể cả dấu hiệu của tham nhũng nữa.

Với phương thức tiếp cận như trên, nghị định cần xác lập hai cơ chế để tác động vào các nhóm đối tượng như tôi đã nêu ở trên theo hai hướng tương đối độc lập. Nhóm thứ nhất, nghị định cần quy định cụ thể, chi tiết để đạt được mục tiêu đối với cơ quan công quyền, chi tiêu từ ngân sách nhà nước. Đối với nhóm thứ hai, có thể đặt ra một số quy định mang tính định hướng cũng với mục tiêu khắc phục tình trạng phô trương, lãng phí, thực hiện chủ trương tiết kiệm của Đảng và Nhà nước ta (đây là mục đích bao trùm của nghị định). Tuy nhiên, do đặc thù cũng như tính chất tự chủ, tự quản cao của các đối tượng thuộc nhóm thứ hai thì các chuẩn nêu ra ở đây cũng chỉ nên mức độ, không nên can thiệp quá sâu.

Nghị định 145/2013 được ban hành ngày 29-10 vừa rồi. Dự thảo đã được Bộ Tư pháp thẩm định ngày 9-10-2012, nghĩa là đã cách đây một năm có lẻ. Tôi ít thấy dự thảo nào từ lúc thẩm định tới lúc thông qua lại kéo dài hàng năm như vậy. Chắc là quá trình xem xét, hoàn thiện và thông qua dự thảo cũng có nhiều vấn đề được đặt ra.

TS LÊ HỒNG SƠN, Cục trưởng Cục Kiểm tra văn bản QPPL - Bộ Tư pháp

Theo hướng đã nói ở trên thì nội dung nghị định cũng có một số nội dung bất cập. Ví dụ, với quy định không dùng phù hiệu, nơ, hoa cài ngực; thời gian biểu diễn nghệ thuật không quá 30 phút; không tặng biểu trưng, biểu tượng (logo), không tổ chức chiêu đãi…, nếu đối chiếu với nhóm thứ hai là nhóm tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội… mang tính tự chủ, tự quản cao thì là thái quá. Ngoài ra, về chuyện kính thưa quy định tại khoản 4 Điều 27 của nghị định, dư luận băn khoăn là có lý. Nếu xét về văn phong ngữ nghĩa, chính tả tiếng Việt thì cách thể hiện ở khoản này chưa đạt độ chuẩn mực, trong sáng, dễ tạo ra cách hiểu rất khác nhau. Ví dụ: “Lãnh đạo có chức vụ cao nhất ở trung ương và ban, bộ, ngành, địa phương, đơn vị”, có người cho rằng chỉ là “kính thưa họ tên và chức danh” của một người thôi. Cách hiểu này ít nhận được sự đồng thuận. Cách hiểu phổ biến của nhiều người trong trường hợp này đó là: Lãnh đạo có chức vụ cao nhất ở trung ương (từ Phó Thủ tướng trở lên) và lãnh đạo cao nhất của ban, bộ, ngành (đây cũng là trung ương); rồi lại còn địa phương, đơn vị nữa. Thế là một “dải” các chức danh.

Không thể là sự “chuyển động không khí”

Về việc chế tài, nói nghị định không cần chế tài theo tôi là không ổn. Ở đây có rất nhiều “định chuẩn”, buộc cơ quan, tổ chức, cá nhân phải tuân thủ. Đặc biệt lưu ý chủ trương chống phô trương, hình thức, lãng phí, tiêu cực, tham nhũng. Hơn nữa, trong nhóm đối tượng phải thực thi nghị định này bao gồm cơ quan, tổ chức, cá nhân, cán bộ, công chức, viên chức trong bộ máy nhà nước, sĩ quan, hạ sĩ quan lực lượng vũ trang.

Theo tôi, tốt nhất nghị định này nên có chế tài nguyên tắc để bảo đảm tuân thủ nghiêm minh. Người nào vi phạm - đặc biệt là cán bộ, công chức, viên chức, sĩ quan, hạ sĩ quan lực lượng vũ trang - hoàn toàn có thể áp dụng các chế tài kỷ luật mà pháp luật đã quy định đối với những đối tượng này. Nếu không quy định chế tài thì hóa ra các quy chuẩn trong nghị định chỉ là sự “chuyển động không khí” mà không có tính răn đe, bắt buộc nào cả.

THU NGUYỆT ghi

Đừng bỏ lỡ

Video đang xem nhiều

Đọc thêm