20 năm Việt-Mỹ và hai luồng phát triển

(PL)- Chìa khóa quan trọng trong việc thúc đẩy quan hệ Việt-Mỹ ngày càng đi vào chiều sâu chính là khởi động một “lộ trình tư tưởng”.

Năm 2015 là một cột mốc quan trọng, đánh dấu 20 năm quan hệ ngoại giao Việt-Mỹ. TS Trương Minh Huy Vũ (khoa Quan hệ quốc tế Trường ĐH KHXH&NV, ĐH Quốc gia TP.HCM) nhận định hai nước đang cần phải khởi động một “lộ trình tư tưởng”. Đây là một phương thức tìm cách chia sẻ và đồng thuận với nhau về các luật chơi chung trước mắt và hình dung lâu dài về một trật tự khu vực mới đang định hình, điều không chỉ đo bằng yếu tố quyền lực hay kinh tế mà còn cần “bén rễ” mang tính lâu dài.

Những thành quả ban đầu

. Phóng viên: Nhìn lại thành quả quan hệ Việt-Mỹ trong suốt 20 năm qua, đặc biệt trong năm 2014, ông có nhận xét gì?

+ TS Trương Minh Huy Vũ: Trong năm 2014, thương mại hai chiều Việt-Mỹ đạt con số trên 36 tỉ USD. Mỹ hiện đứng thứ bảy trong số các nhà đầu tư vào Việt Nam với 699 dự án, với tổng số vốn là 10,7 tỉ USD. Với kỳ vọng ký kết được Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) vào năm 2015 quan hệ Việt-Mỹ sẽ chính thức nâng lên một mức thang quan trọng, giúp Việt Nam đẩy mạnh đa dạng hóa quan hệ ngoại thương.

Cũng trong năm vừa qua, hai nước đã tiến hành 11 cơ chế đối thoại trong các lĩnh vực chính trị, an ninh, quốc phòng, kinh tế, phát triển, dân chủ, nhân quyền và lao động. Việt Nam xem mối quan hệ Việt-Mỹ quan hệ “đối tác toàn diện”, trong khi ở Mỹ là “đối tác chiến lược toàn diện”. Hợp tác khoa học kỹ thuật cũng chứng kiến bước tiến trong Hiệp định 123 về hợp tác hạt nhân dân sự.

Ngay cả lĩnh vực còn nhiều dè dặt ban đầu, các quan chức quân sự - quốc phòng của hai bên đã có những cuộc viếng thăm và mở rộng hợp tác. Lợi ích chung về kinh tế, an ninh, địa chính trị giữa Mỹ và Việt Nam đang ngày càng gia tăng, với mối quan tâm chung về đảm bảo tự do hàng hải và thương mại tại biển Đông. Gói hỗ trợ 18 triệu USD để cải thiện năng lực tuần tra hàng hải và việc Mỹ bỏ một phần lệnh cấm vận vũ khí sát thương cho Việt Nam là những thí dụ quan trọng. Ngoài ra, trong năm 2014, Thượng viện và Hạ viện Mỹ đã thông qua các nghị quyết yêu cầu đảm bảo tự do hàng hải và ổn định tại biển Đông, kêu gọi tuân thủ luật quốc tế và Luật Biển Liên Hiệp Quốc.

Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng và Tổng thống Obama vui mừng trước những tiến triển đạt được trong quan hệ hai nước trong cuộc gặp tại Myanmar năm 2014. Ảnh: VGP

Tuy nhiên, nếu nhìn vào quan hệ hai nước trong thời gian tới, cần lưu ý rằng tất cả thành quả trên đây chỉ là những nền tảng khởi đầu cho một lộ trình dài hơi hơn.

. Dựa vào những lý do nào khiến ông nhận định rằng 20 năm qua chỉ mới là những “nền tảng” khởi đầu?

+ Chúng ta hay nói rằng quan hệ Việt-Mỹ còn nhiều “dư địa” để phát triển hơn trong tương lai.

Một vấn đề chỉ được giải quyết khi nó được hai bên xác định đúng tên gọi và bản chất. Mập mờ hay lảng tránh làm mất nhiều thời gian, gia tăng sự không tin tưởng lẫn nhau. Các cơ chế đối thoại chính trị, quốc phòng giữa hai bên trong thời gian gần đây là các kênh hữu ích để nêu vấn đề. Đối thoại có thể giúp người ta có thêm thông tin và tạo kênh tương tác nhưng chưa chắc giúp hai bên “hiểu” nhau hơn, nếu bên cạnh nó không tồn tại một chiều sâu đồng cảm về các thang giá trị.

Một thực tế rằng trong khi bên kia bờ đại dương thế hệ giới tinh hoa của Mỹ liên quan đến cuộc chiến Việt Nam từ từ vắng bóng thì bên này sông Vàm Cỏ, ký ức về những mất mát chiến tranh đang được thay thế bằng xung lực của thời bình. Chúng ta không nói về làm cách nào để quên quá khứ mà đang thảo luận về khả năng thiết kế tương lai.

Khởi động một lộ trình tư tưởng

. Tại sao hai nước phải cần khởi động một lộ trình tư tưởng?

+ Một “lộ trình tư tưởng” giữa hai quốc gia không những là một phần của sự trao đổi văn hóa mà là sự hiểu biết lẫn nhau về nhân sinh quan, cách sống và cả tổ chức xã hội, hoạt động kinh tế và điều hành chính sách.

Hiểu được hệ thống chính trị của Mỹ - cả về mức độ phức tạp lẫn quy trình ra quyết định chính sách - sẽ giúp các đối tác Việt Nam biết được “”đường đi nước bước” khi làm việc với chính giới và doanh nghiệp Mỹ, cũng như không bất ngờ trước những hành động hay lời nói mà đôi khi “kỳ lạ” ở bên kia bờ đại dương.

Ngược lại, tận mắt thực địa tình hình xã hội của Việt Nam hay hiểu cội nguồn cách lý giải của những lựa chọn chính sách là cách thức để các giới của Mỹ - cả chính khách, doanh nghiệp, lẫn các nhà tri thức học giả-hiểu, chia sẻ và đồng thuận hơn với những bước đi của Việt Nam nói riêng và quan hệ Việt-Mỹ nói chung.

Đặt quan hệ song phương trong bối cảnh hội nhập khu vực và quốc tế, câu chuyện còn là sự giao thoa của những luồng quan điểm. Tương tác Việt-Mỹ trong một “châu Á mới đang định hình” không chỉ đơn thuần sự biến đổi môi trường chiến lược mà còn là cọ xát, thậm chí va chạm với những cách tiếp cận khác nhau. Quá trình này dẫn đến khả năng xuất hiện những tập quán mới và chuẩn mực mới, cái mà chưa chắc phải là cách thức phát triển tối ưu nhất và cần có những lựa chọn “đồng thuận” hay “phản hồi”.

. Vậy theo ông, một lộ trình tư tưởng như vậy đã bắt đầu?

+ Có nhiều tiền đề hoặc những bước khởi động được xây dựng, đặc biệt trong 10 năm vừa qua. Mô hình chương trình Fulbright - như một cầu nối giữa sinh viên, học giả và giới tri thức - là một bài học thành công mà báo chí nhiều lần đề cập.

Một thí dụ khác rất đáng chú ý là việc hai bên thúc đẩy lộ trình xây dựng định hướng chung từ tư tưởng đến hành động tại khu vực tại tiểu vùng sông Mekong mở rộng (gọi tắt là GMS).

. Ông có thể giải thích cụ thể hơn về vấn đề GMS trong lộ trình tư tưởng Việt-Mỹ?

+ “Tư tưởng” và “kiến thức” đóng một vai trò quan trọng trong việc hình thành “một GMS chung” vì nó tạo nên hiểu biết, nguyện vọng chung giữa các nước thành viên.

Hiện tồn tại một cuộc đấu tranh giữa hai luồng quan điểm về phát triển. Một bên là “phát triển mang tính bao gồm”, xem xét nhu cầu phát triển của con người gắn liền với các vấn đề xuyên quốc gia như bệnh truyền nhiễm, tổn thương do biến đổi khí hậu, cạn kiệt nguồn nước. Bên còn lại là quan điểm “tăng trưởng loại trừ”, tập trung nhiều vào mục tiêu chỉ số, có xu hướng thúc đẩy một nền kinh tế khu vực lấy thủy điện làm trọng tâm. Những tư tưởng khác nhau trong việc xây năng lượng thủy điện tại khu vực “đụng chạm” với nhau khi hình dung về một GMS thịnh vượng. Những tư tưởng này gắn liền với những tác động về mặt tri thức từ các nước ngoài khu vực. Câu hỏi đặt ra ở đây: Ai sẽ cung cấp tri thức để hỗ trợ lập kế hoạch và đưa ra quyết định kế hoạch hành động giữa các nước với nhau?

Các sáng kiến ​​hợp tác do Mỹ dẫn đầu như sáng kiến ​​hạ lưu sông Mekong (LMI) có thể được xem là một nỗ lực để thiết lập một mạng lưới kiến thức như vậy. Thay vì thực hiện các dự án kinh tế khổng lồ dưới sự bảo trợ của Nhà nước, LMI cung cấp các dự án liên quan đến công nghệ tiên tiến của Intel, các chương trình giáo dục của Trường Harvard Kennedy, chương trình tư vấn về tiêu chuẩn và đánh giá tác động của Ủy ban sông Mississippi và Cục Khảo sát địa chất Mỹ. Bên cạnh tài chính, các đóng góp của Mỹ cho LMI chủ yếu về các sáng kiến nhằm trao đổi kinh nghiệm và hợp tác giữa các bên.

Nhấn mạnh vào sự phát triển công bằng, bền vững, khuyến khích các quốc gia hợp tác vì lợi ích chung của khu vực, LMI tìm đường dẫn đến trái tim của người dân địa phương hạ nguồn sông Mekong qua đối ngoại nhân dân và giao lưu tri thức. Tại Cần Thơ, Trà Vinh, Tiền Giang, Long An, Bến Tre v.v…, những ý tưởng đang được kết nối tìm sự hợp tác giữa Mỹ và Việt Nam không chỉ với các vấn đề kỹ thuật mà còn là định hình quan điểm và thế giới quan về “thách thức biến đổi khí hậu” trong tương lai.

Đồng thuận từ quá trình tương tác tri thức là phản hồi tốt nhất cho những cách tiếp cận hay luồng tư tưởng không hợp thời vẫn đang mong muốn giữ mình làm chủ đạo.

. Xin cảm ơn tiến sĩ.

Đừng bỏ lỡ

Video đang xem nhiều

Đọc thêm