Chuyện người trở về từ đoàn tàu không số huyền thoại

Ông đã cùng với đồng đội xông pha trên nhiều chuyến tàu không số. Hiểm nguy vì bom đạn, thiên tai nhưng ông cùng đồng đội lấy mưu trí thắng gian nguy, lấy sự can trường vượt qua hiểm trở.

Ông là một trong những chiến sĩ ngoan cường từng vào sinh ra tử của “Đoàn tàu không số” lừng danh thời “hoa lửa”. Ông là Trần Ngọc Tuấn (SN 1933, quê Quảng Nam, hiện nay sống tại TP Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa).

“Đoàn tàu không số” khiến địch điên cuồng

Trong căn nhà nhỏ nằm ở con hẻm giữa lòng thành phố Nha Trang xinh đẹp, ông Tuấn nở nụ cười giản dị tiếp chúng tôi. Vừa pha trà mời khách ông vừa nói: “Cứ mỗi lần nghe tin có nhà báo tới là tui mừng lắm. Lúc đó những ký ức đoàn tàu không số lại tràn về. Thời đó gian khổ nhưng ai nấy đều cảm thấy vui và tự hào...”.

Nhấp một ngụm trà, ông nhớ lại: Hồi đó, thực hiện Chỉ thị của Trung ương Đảng và Bộ Quốc phòng, ngày 23-10-1961, Bộ đội Hải quân Việt Nam quyết định thành lập Đoàn 759 (tiền thân của đoàn 125 Hải quân ngày nay) để vận chuyển hàng hoá, vũ khí chi viện cho chiến trường miền Nam với mật hiệu “Đoàn tàu không số” trên tuyến đường huyền thoại “Đường mòn Hồ Chí Minh trên biển”.

Thời đó được đứng vào hàng ngũ của đội quân “Đoàn tàu không số” là một niềm vinh dự lớn cho bất kể ai. Ông kể: Sau quá trình trinh sát thăm dò, nắm chắc hoạt động của địch trên biển, vào đêm 11-10-1962, chuyến tàu vỏ gỗ đầu tiên chở hàng ngàn tấn vũ khí bí mật xuất phát từ bến cảng Hải Phòng.

Sau 6 ngày đi biển, niềm vui lớn nhất của cán bộ trên con tàu “không số” là tàu đã an toàn cập bến Văn Lũng (Cà Mau) cung cấp kịp thời vũ khí, đạn dược cho quân và dân miền Nam đánh thắng quân xâm lược. Quân địch liên tiếp thất bại trên các mặt trận trên chiến trường miền Nam. Chúng đánh hơi thấy tuyến vận chuyển của ta liền điên cuồng tổ chức lực lượng để đánh trả.

Chúng thành lập “lực lượng đặc nhiệm 115, huy động lực lượng hạm đội 7 và lực lượng hải quân ngụy với các phương tiện chiến tranh hiện đại nhất như tàu thủy, máy bay... ngày đêm lùng sục ngăn chặn. Trong lúc đó, các tàu của chúng ta là tàu gỗ thô sơ, giả làm tàu đánh cá của ngư dân, tàu không mang số.

Những lần chạm trán với quân địch, cán bộ chiến sĩ trên tàu đã anh dũng chiến đấu tới viên đạn cuối cùng, sau đó phá nát vũ khí, cho nổ tàu hoặc cho tàu lao thẳng vào tàu địch, kiên quyết không để lộ nhiệm vụ hoặc lộ tuyến đường vận chuyển. Trong mưa bom, bão đạn của kẻ thù, những chuyến tàu không số vẫn hiên ngang mang vũ khí, đạn dược đến với chiến trường miền Nam... trước sự bất lực và kinh ngạc của kẻ thù.

Những trận chiến quyết tử

Năm 1964, sau khi tập kết ra Bắc, ông Tuấn được cấp trên điều về công tác tại “Đoàn tàu không số” với nhiệm vụ là chính trị viên, Bí thư Chi bộ các tàu 55, 56 và 43. Những tháng ngày chiến tranh ác liệt, cùng với đồng đội, ông Tuấn tổ chức 9 chuyến vận chuyển vũ khí vào các tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu, Trà Vinh, Quảng Ngãi; trong đó có 2 chuyến đặc biệt phục vụ chiến dịch Bình Giã và chiến dịch Mậu Thân 1968.

Hướng về tấm ảnh đen trắng chụp ông và đồng đội trên tàu 43, mắt đăm chiêu, ông kể cho chúng tôi kỷ niệm khó quên: “Đầu năm 1968, Đoàn vận tải 125 Hải quân (tức “Đoàn tàu không số”) được lệnh xuất phát chở hàng vào 4 bến khác nhau ở miền Nam.

Tàu 43 do thuyền trưởng Nguyễn Đắc Thắng và tôi (chính trị viên) chỉ huy được lệnh chở vũ khí vào huyện Đức Phổ - Quảng Ngãi. Trên đường đi, chúng tôi đã bị máy bay và tàu chiến địch phát hiện và theo dõi các hoạt động. Lúc này, anh em giả vờ đánh bắt cá, lòng vòng mãi trên biển và bước sang đêm thứ ba thì tàu đến vùng biển Quảng Ngãi. Khi cách bến khoảng 15 hải lý thì hai tàu chiến địch xuất hiện.

Chúng đánh tín hiệu hỏi: “Anh là ai?”. “Tôi là tàu đánh cá”-các anh trả lời rồi nhằm hướng Ba Làng An thẳng tiến. Bỗng một ánh sáng chớp lòe trước mặt. Địch bắn pháo sáng rồi nã pháo tới tấp sang tàu 43, khép dần vòng vây, quyết bắt sống những người trên tàu.

Ngay tức khắc, thuyền trưởng Thắng hạ lệnh chiến đấu. Sau loạt đạn đầu tiên nổ vang trời, một tàu địch bị cháy. Máy bay địch xuất hiện. Mặt biển sôi sục. Tiếng súng DKZ, đại liên của ta đanh thép đáp lại. Một máy bay HU-1A của địch bị trúng đạn, bốc cháy đâm sầm xuống biển. Nổ ầm vang, rực đỏ một góc trời. Quân ta có 3 chiến sĩ đã hy sinh, 11 chiến sĩ bị thương, con tàu bị mắc cạn. Trong cơn nguy kịch thuyền trưởng hạ lệnh đập khói mù, khiêng tử sĩ, thương binh lên bờ và ra lệnh hủy tàu.

Người khắc ghi trong “Nhật ký Đặng Thùy Trâm”

Dừng lại một lát, ông Tuấn lấy khăn lau nước mắt đang lăn trên gò má. Ông kể tiếp: “Khi tiếng nổ ầm ầm vang dậy cả một vùng biển cũng là lúc chúng tôi đã nằm trong vòng tay che chở của đồng bào thôn Quy Thiện, xã Phổ Hiệp (Quảng Ngãi). Quân Mỹ đã tiến vào làng. Tiếng la hét inh ỏi khắp nơi. Tiếng giày đinh nện rầm rầm trên nắp hầm bí mật... Mười ngày đêm nằm hầm trong tình trạng thương vong, nếu không có sự đùm bọc, che chở của người dân nơi đây chắc chúng tôi khó mà qua được. Rồi chúng tôi được du kích cáng lên bệnh xá của chị Đặng Thùy Trâm. Hai lần đi đều gặp địch, phải quay lại, đến đêm thứ ba mới trót lọt”.

“Tui sống được là nhờ Thùy Trâm và bệnh xá Bắc Mười cũng như người dân thôn Quy Thiện”- ông Tuấn hướng về những tấm ảnh “thời hoa lửa”, mắt đẫm lệ. Những lần dưỡng thương, chữa trị tại bệnh xá, hình ảnh cô gái Thủ đô động viên, canh giữ suốt đêm lại rất lạc quan thôi thúc ông cố gắng lành bệnh để trở về đơn vị.

Ông không sao quên được lúc chia tay ngày 10-4-1968 (có ghi trong nhật ký) để vượt Trường Sơn trở lại đơn vị. Ngày đó, ông Tuấn là người cuối cùng Thùy Trâm nắm chặt tay và nói: “Nhớ và gửi lời tới hậu phương”. Sau khi “hẹn gặp lại ngày thống nhất”, Thùy Trâm bật khóc khiến cuộc chia tay càng thêm quyến luyến...

Đồng đội người Anh hùng Nguyễn Phan Vinh

Nói về "Đoàn tàu không số", ông Tuấn cũng như đồng đội không bao giờ quên gương Anh hùng Nguyễn Phan Vinh. 21 tuổi nhập ngũ, 35 tuổi hy sinh. Năm 1970, anh đã được Nhà nước truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

Ông Trần Ngọc Tuấn

Một hòn đảo thuộc quần đảo Trường Sa đã được mang tên anh, đảo Phan Vinh. Tháng 3-1968, anh hy sinh ở Hòn Hèo thì cuối năm ấy, cha của anh, người du kích tên là Nguyễn Đức Mẫn cũng hy sinh trong một trận chống càn tại quê nhà. Mẹ anh mất trước đó 5 năm (năm 1963) vì bị địch bắt, đánh đập, tra khảo dã man.

Đối với “Đoàn tàu không số” trong suốt 14 năm liên tục (1961-1975) tuyến “Đường Hồ Chí Minh trên biển” - huyền thoại của bộ đội Hải quân đã có 1.789 chuyến tàu không số vận chuyển 150 ngàn tấn vũ khí trang bị và 80 ngàn lượt cán bộ, vượt qua hàng vạn hải lý, khắc phục hơn 4.000 quả thủy lôi, chống chọi hơn 20 cơn bão, chiến đấu hơn 30 lần với tàu địch, đánh trả 1.200 lần máy bay địch tập kích, bắn rơi 5 chiếc và bắn cháy nhiều tàu xuồng của địch, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ.

Chia tay ông Tuấn vào lúc trời đã về chiều, tiễn chúng tôi ra cửa, ông Tuấn chia sẻ, cuộc đời ông được sống và cống hiến cho Tổ quốc là một niềm vinh dự suốt đời ông. “Đoàn tàu không số” với tuyến “Đường Hồ Chí Minh trên biển” là một kỳ công của bộ đội Hải quân, trở thành huyền thoại trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước mãi mãi là niềm tự hào lớn nhất trong trái tim người lính.

Bài, ảnh: Ánh Dương (báo GTVT)

Đừng bỏ lỡ

Video đang xem nhiều

Đọc thêm

Đọc nhiều
Tiện ích
Tin mới