Gà trống nuôi con đệ đơn xin cấp dưỡng​

Tòa đã sửa bản án sơ thẩm, chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, buộc bà D. cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 600.000 đồng, thời hạn cấp dưỡng từ khi án có hiệu lực pháp luật và chấm dứt nghĩa vụ cấp dưỡng theo Điều 118 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014. Không chấp nhận yêu cầu thay đổi nuôi con của bà D.

Theo trình bày của nguyên đơn, ngày 17-9-2013 TAND huyện Tây Hòa, Phú Yên đã xét xử, tuyên ông K. và bà D. được ly hôn. Tòa giao con chung là cháu C. (sinh năm 2007) cho ông K. trực tiếp nuôi dưỡng. Bà D. phải cấp dưỡng nuôi con trong thời gian từ tháng 5-2012 đến tháng 9-2013 với tổng số tiền 10,2 triệu đồng; từ tháng 10-2013 thì bà D. không phải cấp dưỡng nuôi con nữa. Nay vì ông K. bị thất nghiệp, vật giá lên cao và cháu C. thường xuyên đau bệnh nên ông yêu cầu bà D. cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 600.000 đồng, thời hạn cấp dưỡng từ tháng 10-2013 đến khi cháu C. đủ 18 tuổi.

Theo bà D., bản án ly hôn năm 2013 đã ghi rõ từ tháng 10-2013 bà không phải cấp dưỡng nuôi con nên bà không chấp nhận yêu cầu của ông K. Nay bà yêu cầu được nuôi cháu C. và không yêu cầu ông K. cấp dưỡng nuôi con.

Xử sơ thẩm vào tháng 8-2016, TAND huyện Tây Hòa không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông K. và yêu cầu phản tố của bà D. Sau đó ông K. kháng cáo.

Tại phiên xử phúc thẩm mới đây, TAND tỉnh Phú Yên nhận định: Tại phiên tòa sơ thẩm, ông K. yêu cầu bà D. cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 600.000 đồng, thời hạn cấp dưỡng từ tháng 10-2013 đến khi cháu C. đủ 18 tuổi. Tuy nhiên, ông K. không cung cấp được tài liệu, chứng cứ về mức thu nhập của bà D. cũng như không chứng minh được điều kiện kinh tế của bản thân là không đủ để chăm sóc, nuôi dưỡng cháu C.

Tại tòa, ông K. cung cấp sổ khám bệnh cho thấy cháu C. thường xuyên mắc bệnh, phải điều trị ở nhiều nơi, ông K. lại không có thu nhập ổn định. Vì vậy, tòa thấy cần áp dụng quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình để buộc bà D. cấp dưỡng cho cháu C. mỗi tháng 600.000 đồng là phù hợp với thực tế.

Về thời hạn cấp dưỡng, tòa buộc bà D. cấp dưỡng kể từ khi bản án có hiệu lực pháp luật là phù hợp. Bà D. xin được nuôi con nhưng cháu C. có nguyện vọng xin được ở với ông K. vì tình cảm cha con đã gắn bó. Hơn nữa, cháu đang sinh hoạt và học tập tại nơi cư trú của ông K. nên cần giữ nguyên việc nuôi con như án sơ thẩm. Từ đó, TAND tỉnh Phú Yên đã quyết định như trên.