Sáng ngày 5-6, tại Báo Pháp Luật TP.HCM đã diễn ra talkshow với chủ đề “Mở lối cho nghiên cứu từ đại học bước ra thị trường” do báo tổ chức.
Gian nan đưa nghiên cứu từ đại học ra thị trường
Đánh giá diện mạo hoạt động khoa học công nghệ (KHCN) hiện nay, TS Trần Thị Ngọc Diệp (Trưởng Trung tâm Đổi mới sáng tạo và Chuyển giao công nghệ, ĐH Quốc gia TP.HCM), cho rằng thương mại hóa nghiên cứu trong trường ĐH đã có xu hướng thay đổi tích cực. Nhiều nghiên cứu tạo ra những giá trị cho xã hội.
Tại talkshow, các chuyên gia đã chia sẻ những rào cản khiến nghiên cứu khoa học từ các trường đại học chưa được ứng dụng ra thị trường và đề xuất các giải pháp để khắc phục.
Theo TS Diệp, nguyên nhân của tình trạng doanh thu từ hoạt động KHCN ở các trường còn hạn chế là do phần lớn giảng viên vẫn xem mục tiêu chính của nghiên cứu là công bố khoa học, chưa đặt trọng tâm vào việc tạo ra giá trị cho doanh nghiệp. Khi tư duy vẫn đặt nặng nghiên cứu để công bố, việc hướng đến thương mại hóa hay chuyển giao công nghệ khó trở thành ưu tiên.
Ngoài ra, thời gian tiếp cận thị trường thường kéo dài hơn cả thời gian nghiên cứu. Điều này khiến nhà khoa học nản lòng và làm sản phẩm bị chậm tiến độ.
Theo TS Diệp, cơ chế giao quyền và trách nhiệm cho chủ nhiệm đề tài cũng là một bất cập. Mặc dù các nghị định đã mở hơn trong việc trao quyền tự chủ, nhưng chưa có quy định đủ rõ ràng để người đứng đầu đề tài mạnh dạn quyết định các vấn đề quan trọng, đặc biệt là vấn đề định giá, đấu thầu hay lựa chọn đối tác.
Ở góc nhìn khác, PGS. TS Đàm Sao Mai, Phó Hiệu trưởng Trường ĐH Công nghiệp TP.HCM cho rằng doanh nghiệp sẵn lòng tiếp cận, nhưng họ muốn thử và nhìn thấy sản phẩm ở quy mô thử nghiệm trước. Trong khi nhiều giảng viên viết bài rất tốt, làm nghiên cứu hay, nhưng để chuyển từ trang giấy sang một sản phẩm cụ thể lại là câu chuyện khác.
PGS.TS Mai cho biết Nghị quyết 57/2024 hiện đã tháo gỡ các vấn đề trên rất nhiều nhưng còn vướng mắc thủ tục hồ sơ.
“Hiện, kinh phí hỗ trợ nghiên cứu sinh vẫn đang nằm trên giấy. Những người làm quản lý và nghiên cứu như chúng tôi đang ở giai đoạn chuyển tiếp giữa cái cũ và cái mới, rất cần sự hỗ trợ để không bị mất động lực. Nhiều lúc, tôi phải bỏ tiền túi để mua vật tư cho nghiên cứu sinh chạy mẫu. Nếu không bao nhiêu công trình bỏ dở giữa chừng cũng "chết'” - bà Mai nói.
Một bất cập khác là độ trễ của kinh phí. Từ lúc làm dự toán, nộp hồ sơ, chờ phê duyệt đến khi tiền về đến nơi phải mất 1,5 đến 2 năm. Lúc đó, giá cả vật tư đã biến động hoàn toàn so với dự toán ban đầu.
TS Bùi Thanh Luân, Giám đốc Công ty TNHH Cơ điện tử Hiệp Phát - Phó chủ tịch Hội Tự động hoá TP.HCM, nhận định đội ngũ giảng viên đang phải đối mặt với áp lực từ các chỉ tiêu KPI về nghiên cứu khoa học, đặc biệt là yêu cầu công bố quốc tế.
Mỗi thầy cô phải gánh một khối lượng định mức công việc rất lớn, chẳng hạn như phải có từ một đến ba bài báo khoa học trong một năm. Chính áp lực này khiến các giảng viên không còn thời gian và cơ hội để tiếp xúc với thực tế cũng như nắm bắt doanh nghiệp đang cần gì. Hệ quả, các đề tài được lựa chọn chủ yếu để phục vụ việc đăng báo nhằm hoàn thành chỉ tiêu hoặc đủ điều kiện cho nghiên cứu sinh tốt nghiệp.
Nghị quyết 57 đã tháo gỡ rất nhiều nhưng cần hướng dẫn chi tiết để thực thi cụ thể, không bị vướng mắc thủ tục hồ sơ hoặc có thể tháo gỡ bằng cơ chế khoán.
Tiến sĩ Bùi Thanh Luân cho rằng để một sản phẩm từ trường đại học đi ra thị trường, luôn bắt đầu từ hai yếu tố. Đó là nhu cầu của doanh nghiệp và khả năng đáp ứng của nhà trường. Theo ông, nhiều thầy cô nhìn thấy tiềm năng của một hướng nghiên cứu nhưng không biết doanh nghiệp có nhu cầu hay không, hoặc không rõ sản phẩm khi hoàn thiện có thể bán được trên thị trường như thế nào.
Rào cản thứ hai nằm ở hạ tầng và quy trình phát triển sản phẩm. Doanh nghiệp có đầy đủ hệ thống để đi từ ý tưởng, thiết kế, chế tạo, thử nghiệm, sửa lỗi cho đến sản phẩm hoàn chỉnh đưa vào sản xuất. Trong khi đó, trường đại học chỉ dừng ở mức nghiên cứu, không có điều kiện thực nghiệm đầy đủ ngoài phòng thí nghiệm.
Cần cơ chế tài chính linh hoạt
Ở góc độ doanh nghiệp, TS Bùi Thanh Luân cho rằng để tháo gỡ những điểm nghẽn trên, nhà nước cần có cơ chế can thiệp mạnh mẽ hơn để tạo điều kiện cho nghiên cứu ứng dụng. Ví dụ về chính sách thuế, doanh nghiệp phải đóng thuế đầy đủ, nhưng khi muốn đầu tư cho nghiên cứu thì lại không có cơ chế khuyến khích tương xứng. Theo ông, nếu doanh nghiệp bỏ tiền tài trợ cho một đề tài – chẳng hạn trị giá một triệu USD – thì khoản kinh phí đó phải được công nhận là chi phí hợp lệ, được khấu trừ thuế, và được bảo đảm quyền sở hữu kết quả nghiên cứu.
TS Luân đề xuất mô hình trong đó doanh nghiệp đặt hàng nghiên cứu, chuyển kinh phí vào một tài khoản riêng do Nhà nước giám sát; trường ĐH và đại diện là một giáo sư nào đó đứng ra sẽ sử dụng nguồn kinh phí này để nghiên cứu đề tài đặt hàng đó như trả lương, chi trả mua trang thiết bị… Người này sẽ tuyển nghiên cứu viên trong và ngoài nước để tham gia dự án. Cơ chế này giúp trường có nguồn lực để thu hút nhân tài, giúp doanh nghiệp yên tâm vì dòng tiền được kiểm soát. Nhà nước chỉ cần giám sát chi tiêu theo đúng nội dung đề tài.
"Nhiều trường đại học trên thế giới phát triển mạnh nhờ thu hút được hàng trăm nghiên cứu sinh quốc tế. Trong khi đó, các trường Việt Nam lại gặp khó khăn trong tuyển sinh sau đại học vì thiếu kinh phí và thiếu dự án lớn để thu hút người học" - TS Luân nói.
Một vấn đề khác là thủ tục liên quan đến sở hữu trí tuệ. Nhiều doanh nghiệp e ngại hợp tác vì thời gian đăng ký bảo hộ quá lâu, quy trình rườm ra trong khi sản phẩm nghiên cứu nếu chậm đưa ra thị trường sẽ dễ bị đối thủ vượt qua.
Ông cảnh báo nếu không cải thiện cơ chế, Việt Nam sẽ tiếp tục chứng kiến tình trạng “chảy máu chất xám”, trong khi nhu cầu nhân lực chất lượng cao của doanh nghiệp ngày càng lớn.
Để giải quyết vấn đề này, nhà nước cần có chính sách mạnh mẽ hơn, đặc biệt là các quỹ hỗ trợ nghiên cứu và đổi mới sáng tạo, nhằm tạo ra môi trường mà cả trường đại học lẫn doanh nghiệp đều có thể yên tâm đầu tư lâu dài.
Cần thêm hướng dẫn chi tiết
Theo PGS.TS Đàm Sao Mai, Nghị quyết 57/2024, Nghị quyết 193/2025 đã tháo gỡ rất nhiều nhưng cần hướng dẫn chi tiết để thực thi cụ thể, không bị vướng mắc thủ tục hồ sơ hoặc có thể tháo gỡ bằng cơ chế khoán. Nếu ký hợp đồng khoán, nhà khoa học tự ước lượng được năng lực, tự chịu trách nhiệm và tự chủ động mua sắm, mọi thứ sẽ rất minh bạch.
Từ góc độ người làm đổi mới sáng tạo trong trường đại học, TS Trần Thị Ngọc Diệp mong muốn có thêm những cơ chế tài chính linh hoạt hơn để hỗ trợ nhà khoa học và đội ngũ quản lý nghiên cứu. Theo bà, nếu không có sự linh hoạt này, nhiều ý tưởng tốt sẽ khó có cơ hội triển khai đến cùng.
Bà nhấn mạnh sự cần thiết của các cơ chế khuyến khích hình thành doanh nghiệp spin-off, doanh nghiệp khoa học – công nghệ trong trường đại học. Những mô hình như hợp tác công – tư, hay các cơ chế sandbox giúp các nhóm nghiên cứu mạnh dạn thương mại hóa sản phẩm hơn.
Tiến sĩ TRẦN THỊ NGỌC DIỆP, Trưởng Trung tâm Đổi mới sáng tạo và Chuyển giao công nghệ, Trường Đại học Quốc tế - ĐHQG TP.HCM):
Năm “cửa ải” để một nghiên cứu bước ra thị trường
Thời gian qua, nhiều công nghệ trong trường đại học đã được đưa đến các sở, ngành và địa phương để giải quyết những bài toán thực tế. Tuy vậy, quá trình chuyển giao vẫn gặp nhiều vướng mắc. Muốn đi ra thị trường, một nghiên cứu phải vượt qua năm “cửa ải” lớn. Cụ thể:
Thứ nhất là khoảng cách giữa nghiên cứu cơ bản và nghiên cứu ứng dụng. Hiện nay, tỷ lệ nghiên cứu cơ bản trong trường đại học vẫn chiếm ưu thế áp đảo so với nghiên cứu ứng dụng. Nguyên nhân là do các thầy cô chưa được tiếp cận nhiều với thực tiễn sản xuất và tư duy thị trường, dẫn đến việc nghiên cứu đôi khi chưa sát với nhu cầu thực tế của doanh nghiệp.
Thứ hai là giai đoạn hoàn thiện công nghệ. Khi đưa công nghệ từ phòng thí nghiệm ra địa phương để triển khai giai đoạn hai – giai đoạn làm mẫu và hoàn thiện – trường gặp rất nhiều trở ngại. Khoảng 70% doanh nghiệp có ý định đầu tư nhưng lại e ngại vì công nghệ vẫn đang ở quy mô thí nghiệm, chưa đủ cơ sở để vận hành thực tế. Bản thân nhà trường và giảng viên cũng thiếu nguồn lực, kinh phí để nâng cấp, hoàn thiện sản phẩm từ quy mô phòng lab sang quy mô công nghiệp.
Thứ ba là bài toán quản trị tài sản trí tuệ và pháp lý. Hiện nay, cơ chế quản trị tài sản trí tuệ tại các nhà trường vẫn chưa rõ ràng. Do quy định pháp luật, chúng ta thường lúng túng trong việc xác định: phần nào là tài sản của Nhà nước, phần nào của nhà trường và phần nào của doanh nghiệp. Dù có thể thỏa thuận trên hợp đồng, nhưng thực tế vẫn thiếu một đơn vị đứng ra thẩm định giá trị của công nghệ một cách khách quan để làm căn cứ cho việc mua bán, chuyển giao.
Thứ tư là nguồn lực tài chính để thương mại hóa. Đây là vấn đề nan giải tại các trường ĐH. Các trường thiếu những nguồn quỹ hoặc cơ chế tài chính đủ rõ ràng và linh hoạt để hỗ trợ thầy cô hoàn thiện sản phẩm ở giai đoạn cuối để hoàn thiện công nghệ, thử nghiệm, đăng ký sở hữu trí tuệ hay sản xuất mẫu. Vì thiếu nguồn lực, nhiều sản phẩm tiềm năng bị dừng lại trước khi kịp bước sang giai đoạn thương mại hóa.
Thứ năm là niềm tin giữa nhà trường và doanh nghiệp. Thực tế, khi nghe về một giải pháp từ nhà khoa học, doanh nghiệp vẫn băn khoăn, e ngại rằng liệu sản phẩm của trường có đáp ứng được yêu cầu thực tế hay không để rót tiền, trong khi giảng viên lại chưa quen với việc làm việc theo đơn đặt hàng. Nếu không xây dựng được niềm tin, rất khó hình thành những hợp tác bền vững trong chuyển giao công nghệ.
PGS.TS ĐÀM SAO MAI, Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Công nghiệp TP.HCM.
Mệt mỏi vì phải làm thủ tục dự toán và thanh quyết toán đề tài
Tôi làm về vi sinh, khi nghiên cứu làm sao biết chính xác con vi khuẩn đó sẽ phát triển thế nào mà bắt phải khai đúng tên, đúng loại thức ăn cho nó từ trước? Đến khi mua, chỉ cần sai một chữ là không được thanh toán, phải trình hội đồng, trình bộ duyệt lại, lúc thủ tục xong thì vi khuẩn đã chết rồi. Ngoài ra, quy trình đấu thầu cực kỳ mất thời gian.
Có những vật tư nằm trong danh mục đặc biệt, nhà khoa học lại phải đi tìm hiểu một đống điều kiện xem có được mua hay không, rồi tìm doanh nghiệp đáp ứng được điều kiện để mua. Quá nhiều thủ tục vụn vặt như vậy đổ lên đầu nhà khoa học. Nếu bắt nhà khoa học vừa phải tính toán giỏi, vừa lập dự án, vừa làm kinh tế, làm thiết kế, làm sản xuất... như thế thì chúng tôi tự mở doanh nghiệp luôn cho rồi” - bà Mai nói.
...............................
TS BÙI THANH LUÂN, Giám đốc Công ty TNHH Cơ điện tử Hiệp Phát - Phó chủ tịch Hội Tự động hoá TP.HCM:
Doanh nghiệp và nhà trường phải đi cùng nhau
Để nghiên cứu từ trường đại học ra thị trường, doanh nghiệp và nhà trường phải “đi cùng nhau” ngay từ đầu. Doanh nghiệp cần đưa ra nhu cầu, “nỗi đau” và mong muốn cụ thể; còn nhà trường sẽ định hướng nghiên cứu KHCN theo đúng yêu cầu đó, thay vì nghiên cứu theo cách riêng rồi mới tìm doanh nghiệp tiếp nhận. Khi doanh nghiệp tham gia từ đầu, họ có thể góp ý, điều chỉnh, thử nghiệm và đánh giá sản phẩm trong suốt quá trình, giúp kết quả cuối cùng phù hợp với thực tế sản xuất.
Nếu không có sự chia sẻ trách nhiệm và nguồn lực, nhà trường không thể hoàn thiện sản phẩm đến mức doanh nghiệp mong muốn, còn doanh nghiệp thì không muốn mạo hiểm đầu tư vào một sản phẩm chưa hoàn thiện.
Khi doanh nghiệp hợp tác với trường, hai bên sẽ bổ sung cho nhau. Trường có tri thức và năng lực nghiên cứu, doanh nghiệp có hạ tầng và hệ thống sản xuất. Khi kết hợp, lực lượng nghiên cứu sẽ mạnh hơn, sản phẩm sẽ khả thi hơn và cơ hội thương mại hóa sẽ cao hơn.
..............................
GS.TSTRƯƠNG NGUYỆN THÀNH, ĐH Utah:
Ba yếu tố chủ chốt để nghiên cứu bước ra thị trường
Mặc dù KHCN ở các ĐH Việt Nam có nhiều bước tiến nhưng chia sẻ một thực tế đáng suy ngẫm là cho đến nay, Việt Nam vẫn chưa hề có một 'con kỳ lân' công nghệ nào xuất phát từ một công trình nghiên cứu nguồn gốc đại học để thế giới biết đến"
Để nghiên cứu ra thị trường thường chịu tác động bởi ba đối tượng là nhà nghiên cứu, trường ĐH, doanh nghiệp. Cơ chế đánh giá hiện tại của nhà khoa học chủ yếu dựa vào số lượng bài báo quốc tế để lên phó giáo sư, giáo sư. Nhưng thời gian nghiên cứu của họ bị ép lại vì áp lực giảng dạy (KBI) tại Việt Nam quá nặng.
Động lực và mối quan tâm của nhà nghiên cứu cơ bản cũng chỉ dừng lại ở bài báo và bằng phát minh. Còn trường ĐH, viện nghiên cứu muốn nâng cao thứ hạng bằng số lượng bài báo và bằng sáng chế. Trong khi doanh nghiệp tính toán và đánh giá rủi ro từ đồng vốn bỏ ra.
Hành trình đưa ý tưởng nghiên cứu ra thị trường tại Việt Nam đang bị nghẽn do quản lý theo một quy trình ngược, trái với dòng chảy thuận tự nhiên của các quốc gia phát triển.
Ở nước ngoài, dòng chảy này đi theo chiều thuận rất tự nhiên. Thay vì bắt doanh nghiệp bỏ tiền tài trợ nghiên cứu ngay từ đầu, Chính phủ nước ngoài sẽ dùng tiền thuế để vận hành chu kỳ này thông qua các quỹ đầu tư chuyển giao công nghệ được quản lý hoàn toàn độc lập với quỹ nghiên cứu cơ bản.
Đặc biệt, Chính phủ không hề đụng vào hay tranh chấp tài sản trí tuệ với nhà trường, họ sẵn sàng cho không vì đích đến cuối cùng của họ là nguồn thu thuế khi doanh nghiệp phát triển mạnh.