Trong bối cảnh bức tranh tài chính đại học (ĐH) thiếu hụt đóng góp của hoạt động khoa học công nghệ (KHCN), Nghị quyết 57/2024 của Bộ Chính trị và cụ thể hóa là Nghị quyết 193/2025 của Quốc hội được xem là bước mở đường quan trọng thúc đẩy KHCN, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Tuy nhiên, để các cơ chế mới thực sự tạo chuyển biến vẫn cần thêm nhiều giải pháp đồng bộ từ chính sách, quản trị ĐH đến liên kết với doanh nghiệp.
Cơ chế mới tháo gỡ 70-80% điểm nghẽn
Với trải nghiệm sau 14 năm quay về và công tác trong lĩnh vực khoa học kỹ thuật liên quan đến y tế ở cơ sở giáo dục ĐH ở Việt Nam, PGS.TS Nguyễn Thị Hiệp, Trường ĐH Quốc tế (ĐH Quốc gia TP.HCM) cho rằng các nghị quyết mới đã tạo ra chuyển biến lớn đối với đội ngũ nhà khoa học.
Trước đó, PGS.TS Hiệp cho biết các nhà khoa học thường xuyên rơi vào trạng thái hoang mang, mơ hồ vì không biết những đề xuất của mình có được chấp thuận hay liệu có nhận được hỗ trợ từ nhà nước hay không. Hoạt động nghiên cứu phần lớn mang tính tự phát, thiếu sự liên kết rõ ràng giữa nhu cầu phát triển của đất nước với khả năng đáp ứng nhu cầu từ nhà khoa học.
Không những thế, theo PGS Hiệp, để làm nghiên cứu được công bố, bà phải bàn bạc với gia đình và tự gói ghém từ tiền thu nhập cá nhân, từ tiền giảng dạy… để thực hiện.
"Tôi bị đẩy vào hoàn cảnh không thể dừng lại, bởi vì nếu không chi tiền túi thì năng lượng nghiên cứu của mình cũng sẽ bị tan chảy vì chờ đợi “funding” (tài trợ), điều này dẫn tới tôi tự thua, tự gục ngã và ngay cả năng lượng tích cực để mình giữ lửa nghề cũng chẳng thể có" - PGS.TS Hiệp nhớ lại.
Vậy nên, các Nghị quyết ra đời cùng các quỹ hỗ trợ nghiên cứu giúp các nhà khoa học định hình rõ ràng về hướng nghiên cứu, hiểu được nhu cầu của đất nước và mạnh dạn theo đuổi các nghiên cứu phục vụ phát triển quốc gia. Họ được tạo động lực, an tâm về cơ chế hỗ trợ kinh phí, đặc biệt là các nhà khoa học trẻ, giúp họ tập trung làm việc, nghiên cứu.
Từ các cơ chế mới, PGS Hiệp liên tục động viên các bạn trẻ hãy về nước cống hiến và phát triển nghề ở Việt Nam, và bà đã tuyển được khá nhiều cán bộ trẻ giỏi và mới, có năng lượng với hi vọng sẽ thực hiện được các nghị quyết triệt để. Tuy nhiên, bà kỳ vọng các cơ chế mới được mở rộng hơn cho nhiều ngành khác chứ không chỉ ưu tiên một số ngành mũi nhọn của quốc gia.
Ở góc độ quản lý trực tiếp hoạt động KHCN, PGS.TS Trịnh Ngọc Nam, Trưởng phòng Quản lý khoa học và Hợp tác quốc tế, Trường ĐH Công nghiệp TP.HCM nhìn nhận hai nghị quyết mới là những cơ sở pháp lý quan trọng cho phát triển KHCN. Trong đó, Nghị quyết 193/2025 là bước ngoặt lớn khi thí điểm nhiều cơ chế đặc thù nhằm tháo gỡ các điểm nghẽn lâu nay trong hoạt động nghiên cứu và thương mại hóa kết quả khoa học.
Từ cơ sở này, giai đoạn 2024-2025, trường đã từng bước thúc đẩy hợp tác với doanh nghiệp, phát triển các mô hình doanh nghiệp spin-off - là doanh nghiệp khoa học và công nghệ ở các trường đại học, viện nghiên cứu.
Mô hình này bao gồm D-HEALTH (thiết bị theo dõi sức khỏe trực tuyến) và ECO-HOUSE (giải pháp nông nghiệp xanh)) và thương mại hóa một số sản phẩm nghiên cứu với hiệu quả tối ưu. Số lượng đơn đăng ký sáng chế tăng 40% so với cùng kỳ, doanh thu từ hoạt động KHCN tăng khoảng 25%, từ hơn 40 tỉ đồng năm 2024 lên hơn 70 tỉ đồng năm 2025.
Những đổi thay điển hình nhất theo PGS.TS Nam là các cơ sở đào tạo được quyền sở hữu và quản lý kết quả nghiên cứu mà không cần thực hiện thêm thủ tục giao quyền sở hữu như trước đây.
Nghị quyết cũng mở rộng quyền tự chủ trong thương mại hóa kết quả nghiên cứu, cho phép cơ sở đào tạo tự quyết định việc cho thuê, chuyển giao, liên doanh, liên kết đối với tài sản hình thành từ nhiệm vụ khoa học công nghệ sử dụng ngân sách nhà nước mà không phải thực hiện thủ tục định giá tài sản trí tuệ như trước.
Đáng chú ý, các trường ĐH công lập được phép thành lập hoặc góp vốn vào doanh nghiệp dựa trên kết quả nghiên cứu khoa học, tạo cơ sở pháp lý cho các mô hình doanh nghiệp spin-off phát triển. Đồng thời, Nghị quyết 193/2025/QH15 của Quốc hội (về thí điểm một số cơ chế, chính sách đặc biệt tạo đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia) cũng cho phép chấp nhận rủi ro trong nghiên cứu, không thu hồi kinh phí nếu nhiệm vụ khoa học không đạt kết quả như kỳ vọng nhưng đã thực hiện đúng quy trình.
“Ở góc độ pháp lý, nhiều điểm nghẽn trước đây đã được tháo gỡ khoảng 70-80%. Tuy nhiên, thách thức hiện nay nằm ở khâu thực tiễn triển khai, đặc biệt là cơ chế chia sẻ lợi nhuận giữa nhà trường, nhà khoa học và doanh nghiệp vẫn cần được hoàn thiện thêm dựa trên những bài học từ các trường hợp thực tế ” - ông Nam nhận định.
Đại học cần gì để biến chính sách thành nguồn thu?
Cơ chế đã dần được khơi thông, song để khoa học công nghệ thực sự trở thành nguồn thu bền vững của các trường ĐH vẫn cần thêm nhiều giải pháp về quản trị, liên kết doanh nghiệp và tổ chức hệ sinh thái nghiên cứu.
Ở góc độ trực tiếp làm khoa học, PGS.TS Nguyễn Thị Hiệp cho rằng một trong những điểm nghẽn lớn cần tháo gỡ hiện nay là cơ chế tài chính và giải ngân cho nghiên cứu. Theo bà, ở nhiều quốc gia, khi đề tài được phê duyệt, kinh phí nghiên cứu được giải ngân nhanh và linh hoạt hơn. Trường đại học sẽ quản lý quỹ tiền và chi theo nội dung hoạch định.
“Làm việc mà tới đoạn giải ngân, nhà khoa học nào cũng khóc thì chắc chắn chúng ta không ra được điều gì lớn lao, chính nó sẽ giới hạn các nhà khoa học và tệ hơn là giới hạn cả sáng kiến của họ. Vì vậy, theo tôi, muốn có kết quả nghiên cứu xuất sắc thì vấn đề tài chính cần được tháo gỡ, linh hoạt hơn và cần tin tưởng các nhà khoa học hơn. Nếu không, các nhà khoa học giỏi ở quốc tế rất khó về hoặc về nhưng khó gắn bó lâu dài” – PGS Hiệp nhận định.
Cạnh đó, theo PGS Hiệp, nhà khoa học cần chủ động bước chân vào doanh nghiệp để hiểu họ đang gặp khó khăn gì, đang mắc những “căn bệnh” gì để biết “kê đơn thuốc” ra sao, giúp đỡ họ tháo từng mối chỉ. Khi thấy hiệu quả thật sự, doanh nghiệp mới tiếp tục đầu tư và muốn hợp tác sâu hơn với nhà khoa học.
TS Quách Thanh Hải, Phó Hiệu trưởng, Trường ĐH Công nghệ Kỹ thuật TP.HCM, cũng cho rằng cần đơn giản hóa các quy định về quản lý tài chính trong việc sử dụng kinh phí, quyết toán, định giá tài sản trí tuệ và phân chia lợi ích từ thương mại hóa sản phẩm nghiên cứu.
Cùng với đó, TS Hải đề xuất Nhà nước cần đầu tư trọng điểm các phòng thí nghiệm chiến lược thay vì dàn trải như hiện nay; đồng thời thúc đẩy mô hình hợp tác “3 nhà” giữa Nhà nước - nhà trường - doanh nghiệp. Ngoài ra, cần phát triển hệ sinh thái đổi mới sáng tạo trong ĐH, gồm trung tâm chuyển giao công nghệ, vườn ươm khởi nghiệp, quỹ đầu tư nghiên cứu ứng dụng và cơ chế khuyến khích doanh nghiệp cùng tham gia đặt hàng, đồng tài trợ nghiên cứu.
Bên cạnh khuyến khích công bố quốc tế, ông Hải cũng kiến nghị cần khuyến khích các hoạt động KHCN theo hướng chú trọng hơn đến hiệu quả ứng dụng, số lượng sản phẩm thương mại hóa, bằng sáng chế và tác động thực tiễn đối với kinh tế – xã hội.
Để thúc đẩy KHCN trong ĐH, PGS.TS Trịnh Ngọc Nam cũng đề xuất giản lược thủ tục hành chính ở các khâu báo cáo, kiểm duyệt hay phê duyệt hợp đồng chuyển giao công nghệ, nhất là với các dự án có yếu tố nước ngoài hoặc liên quan đến công nghệ nhạy cảm.
Ông cũng kiến nghị cần sớm xây dựng các quỹ hỗ trợ khởi nghiệp công nghệ quy mô lớn từ Nhà nước hoặc tổ chức quốc tế để hỗ trợ các dự án nghiên cứu có tiềm năng ngay từ giai đoạn đầu. Bởi theo ông, nhiều dự án tốt hiện vẫn thiếu nguồn vốn để phát triển thành sản phẩm thực tế.
Tại một hội thảo mới đây về định hướng và nâng cao tiềm lực khoa học và công nghệ trên địa bàn TP.HCM giai đoạn 2026-2030 do Sở Khoa học và Công nghệ TP.HCM tổ chức, TS Ngô Đắc Thuần, chuyên gia tư vấn về KHCN, Chủ tịch HĐQT Công ty cổ phần IP Group gợi ý cần thay đổi cách tiếp cận trong hoạt động nghiên cứu và thương mại hóa.
Theo ông, đầu ra của nhiều đề tài hiện nay vẫn chủ yếu là bài báo khoa học, trong khi tài sản trí tuệ tích lũy cho nhà trường và doanh nghiệp còn hạn chế. Vì vậy, cần gắn kết chặt chẽ giữa công bố khoa học và đăng ký sáng chế, qua đó tạo ra tài sản trí tuệ có giá trị khai thác lâu dài.
Bên cạnh đó, hoạt động nghiên cứu cần chuyển từ tư duy “thuận” sang “ngược”, tức xuất phát từ nhu cầu thực tiễn của doanh nghiệp và thị trường để định hướng nghiên cứu, phát triển sở hữu trí tuệ, R&D và đổi mới sáng tạo. Đây là mô hình đã được nhiều quốc gia áp dụng hiệu quả.
Ông cũng đề xuất phát triển hệ sinh thái hỗ trợ thương mại hóa thông qua các tổ chức trung gian, đội ngũ môi giới công nghệ. Giảng viên, nhà khoa học cần được trang bị thêm kỹ năng và kiến thức về sở hữu trí tuệ, pháp lý, cũng như kinh doanh và thị trường. Đồng thời xây dựng bản đồ công nghệ và bản đồ sáng chế để xác định lĩnh vực ưu tiên, tránh nghiên cứu trùng lặp và nâng cao khả năng chuyển giao, thương mại hóa kết quả nghiên cứu.
Talkshow “Mở lối để nghiên cứu từ đại học bước ra thị trường”
Sáng nay, 5-6, tại báo Pháp Luật TP.HCM sẽ diễn ra Talkshow “Mở lối để nghiên cứu từ đại học bước ra thị trường”.
Tham dự có các chuyên gia:
- PGS.TS Đàm Sao Mai, Phó Hiệu trưởng, Trường ĐH Công nghiệp TP.HCM;
- TS Trần Thị Ngọc Diệp - Trưởng Trung tâm Đổi mới sáng tạo và chuyển giao công nghệ, Trường ĐH Quốc tế - ĐH Quốc gia TP.HCM;
- GS.TS Trương Nguyện Thành, Đại học Utah.
Talkshow nhằm tạo diễn đàn trao đổi đa chiều giữa cơ sở đào tạo, nhà khoa học, doanh nghiệp và chuyên gia pháp lý về bức tranh hoạt động khoa học công nghệ hiện nay và những nhìn nhận những điểm nghẽn còn tồn tại. Từ đó, các chuyên gia sẽ thảo luận về những cơ hội và các giải pháp thúc đẩy nghiên cứu gắn với thực tiễn, tạo giá trị kinh tế - xã hội là yêu cầu đặt ra hiện nay.
- PGS.TS NGUYỄN THỊ HIỆP, Trường ĐH Quốc tế - ĐH Quốc gia TP.HCM:
Cần đội ngũ trung gian “hiểu chuyện” để kết nối nhà khoa học và doanh nghiệp
Nhiều năm tham gia đề tài ở các cấp, tôi thấy “điểm nghẽn” lớn nằm ở việc chưa có hướng dẫn rõ ràng để nhà khoa học nhìn thấy “đường ra” cho sản phẩm nghiên cứu.
Tôi nhận thấy đa số các nhà khoa học có một “bệnh nhỏ” là luôn rất thích tập trung vào khoa học. Tôi từng rơi vào những tình huống doanh nghiệp cần, nhà khoa học đã có nhưng khi cả hai bên ngồi nói chuyện với nhau lại vướng mắc và không ra được thành phẩm.
Vì thế tôi nghĩ cần có một đội ngũ trung gian kết nối giữa nhà khoa học với doanh nghiệp. Đội ngũ này phải thật sự “hiểu chuyện”, hiểu kỹ thuật, hiểu nhu cầu của doanh nghiệp, tâm lý nhà khoa học và nắm rõ các quy định pháp lý để hỗ trợ quá trình chuyển giao công nghệ.
Các trường ĐH cần xây dựng đội ngũ trung gian đủ năng lực để chủ động tìm đầu ra cho công nghệ, đồng thời nắm bắt nhu cầu từ địa phương, doanh nghiệp để quay lại đặt hàng nghiên cứu phù hợp. Nếu có được mảnh ghép này, các trường ĐH sẽ tháo gỡ được tình trạng tắc nghẽn của ‘cao tốc chuyển giao’ công nghệ.
- PGS.TS TRỊNH NGỌC NAM, Trưởng phòng Quản lý khoa học và Hợp tác quốc tế, Trường ĐH Công nghiệp TP.HCM:
Đưa thành tích chuyển giao công nghệ, spin-off vào tiêu chí đánh giá nhà khoa học
Các trường ĐH cần tăng cường đào tạo, hỗ trợ kỹ thuật để đội ngũ nhân sự có khả năng hiểu sâu cả logic khoa học lẫn logic thị trường. Các chương trình đào tạo này nên tập trung vào quản lý khoa học công nghệ, thương mại hóa, sở hữu trí tuệ, kinh doanh và khởi nghiệp; đồng thời tạo điều kiện cho cán bộ tiếp cận các mô hình đổi mới sáng tạo thành công ở nước ngoài để học hỏi kinh nghiệm thực tiễn.
Ngoài ra, cần xây dựng những chính sách khuyến khích mạnh hơn cho nhà khoa học, sinh viên khi tham gia hoạt động chuyển giao công nghệ, thương mại hóa và khởi nghiệp vì đây là những hoạt động có giá trị xã hội cao. Theo đó, các thành tích về spin-off, chuyển giao công nghệ hay khởi nghiệp cần được công nhận là tiêu chí trong đánh giá, thăng tiến và khen thưởng nhà khoa học. Bên cạnh đó, cần cho phép nhà khoa học có thời gian tập trung phát triển dự án khởi nghiệp, cùng với các quỹ hỗ trợ phù hợp để thúc đẩy hình thành những sản phẩm có giá trị cho cộng đồng.
- Ông DƯƠNG THÀNH LONG, Cố vấn cao cấp về Luật sở hữu tài sản trí tuệ, Chủ tịch ALIAT Group:
Cần tạo ra “độ sẵn sàng công nghệ” để đưa kết quả nghiên cứu ra thị trường
Nhiều kết quả nghiên cứu hiện đã có khả năng ứng dụng, có thể tạo ra sản phẩm thực tế nhưng vẫn “kẹt” ở giai đoạn hoàn thiện công nghệ, thử nghiệm và tạo mẫu do mức độ sẵn sàng công nghệ còn thấp.
Bởi các nhà khoa học và trường ĐH rất khó tự có đủ nguồn lực tài chính để đầu tư cho giai đoạn này. Tuy nhiên, trải nghiệm một thời gian nghiên cứu tại Nhật Bản, tôi thấy ở đó, họ trao quyền chủ động đăng ký sở hữu và thương mại hóa tài sản trí tuệ cho các chủ thể nghiên cứu. Nhà nước đầu tư các trung tâm nghiên cứu mở, phòng thí nghiệm với trang thiết bị hiện đại, sau đó mở cho các nhà khoa học đưa sáng kiến vào thử nghiệm, phát triển, thậm chí ở quy mô lớn hơn. Chính nhờ hạ tầng này, các doanh nghiệp và nhà đầu tư sẵn sàng tham gia, đầu tư thêm máy móc, thiết bị hiện đại để cùng phát triển sản phẩm.
Từ đó, tôi mong muốn TP.HCM nên xem xét xây dựng một hệ thống tương tự. Điều đó tạo ra “độ sẵn sàng công nghệ” – yếu tố then chốt để đưa kết quả nghiên cứu ra thị trường.