Gỡ điểm nghẽn để '3 nhà' đột phá nhân lực - công nghệ

Gỡ điểm nghẽn để '3 nhà' đột phá nhân lực - công nghệ

(PLO)- Trước yêu cầu phát triển nguồn nhân lực gắn với khoa học công nghệ, mô hình liên kết “3 nhà” được xem là hướng đi tất yếu. Nhưng để hợp tác này hiệu quả, cần hành lang pháp lý rõ ràng và sự đồng hành thực chất của các bên.

Dự thảo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng tiếp tục nhấn mạnh vấn đề nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo nguồn nhân lực, đẩy mạnh nghiên cứu khoa học công nghệ (KHCN).

Những chủ trương này thực tế cũng đang được đẩy mạnh triển khai thông qua Nghị quyết 71/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo hay Nghị quyết 57/2024.

Để đưa các nghị quyết này vào cuộc sống, mối liên kết “3 nhà” gồm Nhà nước - nhà trường - nhà doanh nghiệp (DN) được xem là trụ cột bảo đảm tính thực tiễn, hiệu quả và bền vững. Theo các cơ sở đào tạo, cơ chế hợp tác ba nhà không chỉ giúp cập nhật chương trình đào tạo phù hợp nhu cầu xã hội, mà còn thúc đẩy đổi mới sáng tạo, nghiên cứu ứng dụng và chuyển giao công nghệ.

Hàng ngàn doanh nghiệp ký kết hợp tác với đại học

Báo cáo mới đây của Ban Đối ngoại và Phát triển dự án, ĐH Quốc gia TP.HCM, thời gian qua, đơn vị này đã đẩy mạnh hợp tác với DN và địa phương thông qua nhiều chương trình nghiên cứu, đào tạo và chuyển giao công nghệ.

Từ năm 2021 đến tháng 8-2025, toàn hệ thống đã ký 421 văn bản hợp tác và triển khai 670 nhiệm vụ KHCN. Riêng năm 2025, ĐH Quốc gia TP.HCM ký kết với 16 DN và hai liên minh DN, trong đó có các tập đoàn lớn ở nhiều lĩnh vực. Hợp tác được cụ thể hóa qua các đề tài, dự án nghiên cứu và chương trình hỗ trợ đào tạo...

ĐH Quốc gia TP.HCM còn phối hợp với tám địa phương tổ chức các hội thảo thúc đẩy hợp tác “3 nhà”, đồng thời ký các thỏa thuận hợp tác ba bên.

Những nỗ lực này cũng góp phần thúc đẩy để ĐH Quốc gia TP.HCM hiện dẫn đầu cả nước với gần 3.200 công bố quốc tế năm 2024, doanh thu dịch vụ KHCN đạt gần 295 tỉ đồng/năm, riêng Trường ĐH Bách khoa và Viện Môi trường - Tài nguyên chiếm hơn 90% tổng giá trị này.

Nêu thực tế tại Trường ĐH Sư phạm kỹ thuật TP.HCM, theo PGS-TS Vũ Văn Phong - Phó Trưởng phòng KHCN, thời gian qua, trường chủ động đẩy mạnh hợp tác với DN, gắn kết đào tạo và nghiên cứu khoa học với nhu cầu thực tiễn.

Giai đoạn 2020-2024, trường đã hợp tác với 1.099 DN, cả trong và ngoài nước, trong đó có nhiều tập đoàn lớn. Riêng lĩnh vực vi mạch bán dẫn, trường đã kết nối với hơn 500 DN; lĩnh vực năng lượng tái tạo có gần 400 đơn vị hợp tác.

Hiện trường sở hữu hệ thống phòng thí nghiệm và nhà xưởng hiện đại do các tập đoàn công nghệ đầu tư, giúp giảng viên - sinh viên trực tiếp tham gia các khóa đào tạo, nghiên cứu và chuyển giao công nghệ theo “đặt hàng” DN. Nhiều chương trình tiêu biểu như đào tạo bảo trì điện lạnh, tự động hóa hay PLC đã được triển khai hiệu quả.

Về chuyển giao công nghệ, trường đã thực hiện nhiều dự án ứng dụng thực tế, như thiết kế bộ điều khiển máy tập thể dục cho hãng Sismo (Pháp) và hệ thống IoT giám sát năng suất sản xuất cho nhà máy APM. Ngoài ra, dự án hợp tác nghiên cứu với Bosch Việt Nam về chế tạo hệ thống kiểm tra dây đai truyền lực hộp số CVT được đánh giá cao bởi Bosch toàn cầu.

mô hình liên kết 3 nhà
Ngày hội việc làm tại Trường ĐH Bách khoa (ĐH Quốc gia TP.HCM), đây là cơ sở đào tạo có nhiều hợp tác với doanh nghiệp. Ảnh: QN

Trong đào tạo, theo đại diện Phòng Quan hệ DN của trường, DN tham gia từ khâu xây dựng, phản biện chương trình đến trực tiếp giảng dạy thông qua học phần “Chuyên đề DN”. Nhiều ngành mới như robot và trí tuệ nhân tạo, IoT và hệ thống nhúng, năng lượng tái tạo… được hình thành từ nhu cầu thực tiễn. Tỉ lệ thực hành - thực tế chiếm khoảng 15%-20%; nhiều khoa triển khai “học kỳ DN”, sinh viên làm việc toàn thời gian tại DN như nhân sự chính thức.

Nhà trường tổ chức ngày hội việc làm, vận hành nền tảng CareerHub, giúp tỉ lệ sinh viên có việc làm sau sáu tháng tốt nghiệp duy trì trên 98%. DN đồng hành bằng việc cấp học bổng và đầu tư trang thiết bị phòng thí nghiệm hiện đại, với tổng giá trị hơn 156 tỉ đồng giai đoạn 2019-2025. Trường cũng triển khai nghiên cứu ứng dụng và đào tạo ngắn hạn theo “đặt hàng” riêng của DN.

Còn khoảng cách giữa đào tạo và yêu cầu thực tiễn

Mặc dù mô hình hợp tác Nhà nước - nhà trường - DN ngày càng được đẩy mạnh tại các cơ sở đào tạo nhưng thực tế cho thấy còn nhiều rào cản khiến mối liên kết này chưa phát huy hiệu quả cao.

Đánh giá ở góc độ tổng quan, PGS-TS Trần Lê Quan, Hiệu trưởng Trường ĐH Khoa học tự nhiên (ĐH Quốc gia TP.HCM), cho biết trong hơn 10 năm qua, tại Việt Nam đã có hơn 200 trường ĐH, học viện ký kết hợp tác với DN trong đào tạo, thực tập và nghiên cứu ứng dụng. Tuy nhiên, chỉ khoảng 15% chương trình đào tạo có sự tham gia của DN vào thiết kế học phần. Bộ KH&ĐT cũng đánh giá phần lớn liên kết vẫn mang tính hình thức, thiếu cơ chế chia sẻ lợi ích và khung pháp lý dài hạn để thúc đẩy hợp tác thực chất.

P1213_Chinh_h2.JPG
Các hoạt động thực hành, tìm kiếm việc làm của sinh viên Trường ĐH Sư phạm kỹ thuật TP.HCM. Ảnh: HĐ

Phân tích số liệu cho thấy trên 75% sinh viên có cơ hội thực tập tại DN, song thời gian ngắn và thiếu định hướng nghề nghiệp cụ thể. Chỉ dưới 10% dự án nghiên cứu được triển khai theo mô hình hợp tác trường - DN do chưa có cơ chế chia sẻ tài chính và sở hữu trí tuệ rõ ràng. Tại nhiều cơ sở, biên bản ký kết (MOU) chỉ dừng ở mức cam kết, chưa chuyển hóa thành thỏa thuận triển khai.

Theo PGS-TS Trần Lê Quan, điểm nghẽn cốt lõi nằm ở khoảng cách giữa chương trình đào tạo và yêu cầu thực tiễn. Việc DN tham gia góp ý, giảng dạy, chỉnh sửa chương trình vẫn ở mức hạn chế. Bên cạnh đó, đội ngũ giảng viên có kinh nghiệm thực tế còn thiếu, khiến việc kết nối tri thức với công nghệ và thị trường chưa thực sự hiệu quả.

Cụ thể hơn, theo PGS-TS Vũ Văn Phong, Phó Trưởng phòng KHCN Trường ĐH Sư phạm kỹ thuật TP.HCM, rào cản lớn nhất trong hợp tác giữa nhà trường và DN là sự khác biệt về mục tiêu, kỳ vọng và phương thức vận hành giữa các bên. Nhà trường hướng đến đào tạo toàn diện, phát triển năng lực tư duy và nghiên cứu lâu dài cho người học, trong khi DN lại chú trọng hiệu quả ngắn hạn, mong muốn sinh viên có thể làm việc ngay sau đào tạo.

“Sự khác biệt này dẫn đến sự thiếu đồng thuận trong việc xây dựng nội dung chương trình đào tạo, lựa chọn hình thức hợp tác, cũng như đánh giá hiệu quả đầu ra” - PGS-TS Phong cho hay.

Đầu tư cho nghiên cứu và phát triển còn hạn chế

Bên cạnh đó, khung pháp lý cho hợp tác vẫn thiếu đồng bộ, nhất là trong chia sẻ lợi ích, quyền sở hữu trí tuệ trong các dự án nghiên cứu chung còn thiếu rõ ràng, khiến các bên e ngại khi tham gia hợp tác sâu. Ngoài ra, việc thiếu các cơ chế ưu đãi tài chính, thuế hoặc hỗ trợ từ Nhà nước dành cho DN khi hợp tác với trường ĐH cũng làm giảm động lực tham gia của khu vực tư nhân. Thủ tục hành chính giữa các bên còn phức tạp, rườm rà, làm chậm tiến độ triển khai dự án.

Một hạn chế khác là thiếu đơn vị trung gian kết nối chuyên nghiệp. Ở nhiều trường, hợp tác vẫn mang tính cá nhân, phụ thuộc vào quan hệ riêng lẻ, dẫn đến thiếu đồng bộ và khó mở rộng quy mô. Trong khi đó, nhiều DN có nhu cầu nhưng không biết đầu mối phù hợp để liên hệ.

Chưa kể, nguồn lực nhân sự và nhận thức của các bên liên quan cũng là một rào cản đáng kể.

box.jpg
Kinh nghiệm từ thực tiễn các mô hình thành công của một số quốc gia và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam (Nguồn: PGS-TS Trần Lê Quan, Hiệu trưởng Trường ĐH Khoa học tự nhiên, ĐH Quốc gia TP.HCM)

“Một số giảng viên chưa quen với việc tham gia các dự án mang tính thị trường, còn thiếu kỹ năng làm việc với DN hoặc e ngại trước áp lực tiến độ, yêu cầu thực tiễn cao. Ngược lại, nhiều DN chỉ xem hợp tác với trường học như một phần của trách nhiệm xã hội (CSR), chưa nhìn nhận đây là một chiến lược đầu tư dài hạn để phát triển nguồn nhân lực và cải tiến công nghệ” - PGS Phong nêu thực tế.

Cùng với đó, phần lớn DN Việt Nam vẫn tập trung vào sản xuất, gia công và mục tiêu ngắn hạn, nên đầu tư cho nghiên cứu - phát triển (R&D) còn hạn chế. Nhiều đơn vị chưa xem nghiên cứu khoa học là chiến lược nâng cao năng lực cạnh tranh mà chỉ khai thác công nghệ sẵn có, dẫn đến thiếu nhu cầu đặt hàng, thiếu đội ngũ R&D và cơ chế phối hợp bài bản với trường ĐH.

Vì vậy, theo PGS-TS Phong, cần có giải pháp đồng bộ từ nhà trường, DN và chính sách nhà nước để hình thành hệ sinh thái hợp tác thực chất và bền vững.

TS TRẦN NAM TÚ, Phó Cục trưởng Cục Khoa học, Công nghệ và Thông tin, Bộ GD&ĐT:

P1213_Cot phai_h1_TRAN NAM TU.jpg

Khung pháp lý “3 nhà” đang được cụ thể hóa

Tại Việt Nam, mô hình “3 nhà” đã trải qua nhiều giai đoạn: Khởi phát trước năm 2010 chủ yếu là hợp tác đơn lẻ, đào tạo nặng lý thuyết; giai đoạn 2010-2015 hình thành khung chính sách gắn kết Nhà nước - trường - DN và giai đoạn 2016-2020 mở rộng theo hướng thể chế hóa, đào tạo gắn với nhu cầu DN.

Hiện nay, chính sách KHCN và đổi mới sáng tạo đã chuyển mạnh từ quản lý đầu vào sang quản lý kết quả, chấp nhận rủi ro trong nghiên cứu. Bộ GD&ĐT xác định mục tiêu gắn nghiên cứu với ứng dụng, lấy đổi mới sáng tạo làm động lực đưa tri thức vào thực tiễn, hướng tới xây dựng ĐH thành trung tâm nghiên cứu - công nghệ và DN là trung tâm của hệ thống đổi mới sáng tạo.

Khung pháp lý cho hợp tác được cụ thể hóa tại Nghị định 180/2025, cho phép cơ quan nhà nước, trường ĐH, viện nghiên cứu và DN cùng đầu tư, quản lý, vận hành các dự án KHCN, đổi mới sáng tạo theo cơ chế PPP. Các bên được hưởng ưu đãi đầu tư, miễn giảm thuế, quyền sở hữu và khai thác kết quả nghiên cứu; đặc biệt, trường/viện công lập được phép dùng tài sản công hoặc quyền sở hữu trí tuệ để góp vốn với DN.

Nghị định cũng xác định rõ vai trò từng bên: Nhà nước kiến tạo chính sách, đầu tư hạ tầng, giám sát và đặt hàng; trường ĐH, viện nghiên cứu đảm nhiệm nghiên cứu - chuyển giao công nghệ và đào tạo nhân lực; DN đầu tư, ứng dụng, thương mại hóa kết quả và mở rộng thị trường KHCN.

PGS-TS TRẦN LÊ QUAN, Hiệu trưởng Trường ĐH Khoa học tự nhiên (ĐH Quốc gia TP.HCM):

P1213_Cot phai_h2_TRAN LE QUAN.jpg

Nhà nước giữ vai trò điều phối chiến lược

Từ nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế, các mô hình của Đức, Nhật Bản, Hàn Quốc và Singapore đều cho thấy sự phối hợp ba bên đóng vai trò hình thành hệ sinh thái đổi mới sáng tạo. Như Đức nổi bật với mô hình đào tạo nghề kép, giúp sinh viên dành một nửa thời gian tại DN. Nhật Bản và Hàn Quốc phát triển mạnh các trung tâm chuyển giao công nghệ và cụm đổi mới sáng tạo, có cơ quan điều phối kết nối vùng. Singapore xây dựng chương trình Work-Study Degree, trong đó sinh viên học và làm tại DN 6-12 tháng, được hướng dẫn song song bởi giảng viên và chuyên gia.

Từ đây, nếu triển khai với Việt Nam, việc phát triển mô hình “3 nhà” cần chuyển từ hợp tác hình thức sang đồng sáng tạo (co-creation). Trong đó, trường ĐH phải đóng vai trò chủ động hơn, đổi mới chương trình theo hướng mở, xây dựng trung tâm hợp tác DN, phòng thí nghiệm liên kết, tăng đội ngũ giảng viên “kép” có kinh nghiệm thực tiễn.

Nhà nước giữ vai trò “điều phối chiến lược” thông qua ban hành khung pháp lý hợp tác, hỗ trợ tài chính, ưu đãi thuế cho DN đầu tư vào giáo dục - R&D và xây dựng bộ chỉ số đánh giá chất lượng liên kết.

DN là “phòng thí nghiệm thực tế” giúp sinh viên rèn luyện kỹ năng, đồng thời là đối tác chuyển giao công nghệ và thương mại hóa kết quả nghiên cứu. Khi DN tham gia đồng thiết kế chương trình, hướng dẫn sinh viên, tài trợ nghiên cứu, hiệu quả đào tạo và đổi mới sáng tạo mới có thể nâng cao bền vững.

Ông VÕ VĂN THÂN, Chủ tịch Hiệp hội Các DN khu công nghiệp TP.HCM (HBA):

P1213_Cot phai_h3_VO VAN THAN.jpg

Ba giải pháp để khơi thông dòng chảy

Mô hình hợp tác “3 nhà” là chìa khóa để dòng chảy chính sách, công nghệ và nhân lực được kết nối hiệu quả. Tuy nhiên, để thực hiện hiệu quả, ông đề xuất ba giải pháp. Cụ thể:

Thứ nhất, tạo cơ chế “đặt hàng” từ DN đến trường ĐH: DN nêu bài toán - nhà trường nghiên cứu và đề xuất giải pháp - HBA làm cầu nối triển khai thử nghiệm. Mô hình này giúp rút ngắn khoảng cách giữa lý thuyết và thực tiễn.

Thứ hai, phát triển mô hình “Phòng thí nghiệm DN” tại trường ĐH: HBA sẽ cùng các trường kỹ thuật xây dựng các khu thực hành mô phỏng dây chuyền sản xuất công nghiệp hiện đại, vừa để sinh viên thực tập, vừa giúp DN đào tạo và thử nghiệm công nghệ.

Thứ ba, chính sách ưu đãi DN tham gia hợp tác “3 nhà”: Đề xuất TP kiến nghị Chính phủ ban hành chính sách ưu đãi về thuế, tiền thuê đất, vốn vay cho các DN đầu tư vào R&D, chuyển đổi xanh hoặc hợp tác đào tạo với trường ĐH.

PGS-TS VŨ VĂN PHONG, Phó Trưởng phòng KHCN Trường ĐH Sư phạm kỹ thuật TP.HCM:

P1213_Cot phai_h4_VU VAN PHONG.jpg

Mỗi trường ĐH cần đầu mối chuyên trách kết nối hợp tác

Để thúc đẩy hợp tác giữa nhà trường và DN cần triển khai đồng bộ ba nhóm giải pháp chính. Bên cạnh Nhà nước cần hoàn thiện cơ chế, chính sách hỗ trợ hợp tác, tôi cho rằng mỗi trường ĐH cần có trung tâm hợp tác DN và chuyển giao công nghệ. Đơn vị này sẽ làm “cầu nối chiến lược” giữa nhu cầu thực tiễn của DN với nguồn lực của trường, đồng thời giúp hợp tác bài bản, chuyên nghiệp, giảm phụ thuộc cá nhân và thúc đẩy các chương trình liên kết dài hạn, bền vững.

Ngoài ra, khuyến khích DN hình thành bộ phận nghiên cứu - phát triển nội bộ, hợp tác xây dựng trung tâm nghiên cứu, đầu tư trang thiết bị cho trường ĐH. Cần thường xuyên tổ chức diễn đàn, hội nghị kết nối cung - cầu công nghệ, nơi DN nêu vấn đề thực tiễn và nhà trường đề xuất giải pháp nghiên cứu phù hợp, từ đó hình thành các dự án hợp tác có giá trị ứng dụng cao.

Đọc thêm