Phòng chống bạo hành trẻ em: Cần hệ thống ‘tai mắt xã hội’

Phòng chống bạo hành trẻ em: Cần hệ thống ‘tai mắt xã hội’

(PLO)- Nhiều vụ bạo hành trẻ em bị phát hiện muộn, đặt ra yêu cầu siết chặt cơ chế phát hiện sớm và phối hợp liên ngành hiệu quả hơn.

Mới đây, từ trường hợp một bé trai 2 tuổi nhập viện với nhiều chấn thương do bị mẹ ruột và người tình bạo hành tại TP.HCM, đến bé gái 4 tuổi tử vong trong căn phòng trọ sau thời gian dài bị đánh đập tại Hà Nội.

Các bi kịch không xảy ra tức thời mà là hệ quả của quá trình kéo dài nhưng không được nhận diện. Đáng lo ngại, gia đình vốn là ‘tuyến an toàn đầu tiên’ lại có thể trở thành nơi tiềm ẩn nguy cơ bạo hành và tổn thương nghiêm trọng.

bạo hành (5).jpg
Bé 2 tuổi bị mẹ ruột cùng nhân tình bạo hành ở TP.HCM đang được điều trị tại Bệnh viện Nhi đồng 1. Ảnh: BVCC

Siết chặt cơ chế bảo vệ trẻ em: Không để “vùng mù” tồn tại trong cộng đồng

Trao đổi với PLO, bà Lương Thị Thuận, Chủ tịch Hội Bảo trợ trẻ em TP.HCM, cho rằng dù xử lý nghiêm khắc đến đâu cũng không thể bù đắp những tổn thương mà trẻ đã phải chịu.

Việc thực thi pháp luật ở một số nơi còn chưa nghiêm, xử lý kéo dài, thiếu làm rõ trách nhiệm, khiến bạo hành không được ngăn chặn kịp thời. Do đó cần nhìn thẳng vào trách nhiệm quản lý ở cơ sở và xử lý rõ từng cá nhân, đơn vị liên quan khi để xảy ra vụ việc.

bạo hành (3).jpg
Bà Lương Thị Thuận, Chủ tịch Hội Bảo trợ trẻ em TP.HCM. Ảnh: HẢI NHI

“Có tình trạng phát hiện nhưng xử lý chưa dứt điểm, thậm chí dừng ở nhắc nhở, hòa giải. Sự thiếu kiên quyết này làm tăng nguy cơ tái diễn.

Muốn ngăn chặn bạo hành trẻ em, không chỉ dừng ở tuyên truyền mà phải xử lý đến nơi đến chốn, đúng người, đúng hành vi. Khi pháp luật được thực thi nghiêm minh, liên tục, mới tạo được sức răn đe thực chất” - bà Thuận nhấn mạnh.

Đồng quan điểm, ThS. Trần Công Bình, Phó Chủ tịch Hội Khoa học Tâm lý - Giáo dục TP.HCM, cho rằng bạo hành trẻ em hiện nay không chỉ diễn ra ở các “điểm nóng xã hội” mà chủ yếu tồn tại âm thầm trong phòng trọ, gia đình tái hôn, khu lao động nhập cư hoặc các nhóm dân cư biến động.

“Đây là những “vùng mù” mà nguy cơ bị bỏ sót rất cao khi trẻ em bị bạo hành. Hệ thống bảo vệ trẻ em ở cơ sở còn nhiều hạn chế, nhất là thiếu cơ chế giám sát dữ liệu chủ động và thẩm quyền phát hiện sớm các trường hợp nguy cơ cao” - ông Bình nói.

Cần mạng lưới ‘tai mắt xã hội’ để ngăn bạo hành trẻ em

Từ đó, ông Bình, cho rằng các địa phương cần rà soát định kỳ nhóm trẻ dưới 6 tuổi đang sống trong những gia đình có yếu tố rủi ro như bạo lực, nghiện ma túy, rối loạn tâm lý, ly hôn hoặc biến động chỗ ở, để kịp thời nhận diện nguy cơ từ sớm.

bạo hành (2).jpg
ThS. Trần Công Bình, Phó Chủ tịch Hội Khoa học Tâm lý - Giáo dục TP.HCM. Ảnh: NVCC

Cùng với đó, ông Bình cho rằng cần thiết lập cơ chế báo tin an toàn, bảo mật, dễ tiếp cận với sự tham gia của cộng đồng, đồng thời xây dựng quy trình ‘phát hiện - can thiệp - giám sát liên tục’, phân định rõ trách nhiệm các lực lượng cơ sở.

"Bạo hành trẻ em thường xuất phát từ nhiều nguy cơ tích tụ như áp lực kinh tế, rối loạn cảm xúc, nghiện chất hoặc tiền sử bị bạo hành và có xu hướng leo thang từ đe dọa... gây tổn thương cả về thể chất lẫn tâm lý lâu dài cho trẻ" - ông Bình phân tích,

Vì vậy, ông Bình cho hay cần thiết lập “hồ sơ trẻ em nguy cơ cao” tại cơ sở để quản lý liên ngành. Đồng thời duy trì giám sát sau can thiệp từ 6 đến 12 tháng, kết hợp đánh giá tâm lý và điều kiện chăm sóc, thay vì kết thúc trách nhiệm ngay sau xử lý ban đầu.

“Quan trọng là xây dựng được mạng lưới “tai mắt xã hội” đủ gần dân, đủ chuyên môn và đủ trách nhiệm, nhằm phát hiện nguy cơ từ sớm và ngăn chặn bi kịch xảy ra” - ông Bình nhận định.

Nói thêm về vấn đề này, TS Nguyễn Thị Toàn Thắng, Học viện Cán bộ TP.HCM cho rằng hệ thống chính sách đã tương đối đầy đủ nhưng việc triển khai ở cơ sở vẫn còn hình thức, thiếu chiều sâu, nên nhiều trường hợp nguy cơ cao chưa được nhận diện kịp thời.

bạo hành.jpg
TS Nguyễn Thị Toàn Thắng, Học viện Cán bộ TP.HCM. Ảnh: NVCC

Bà cũng lưu ý, tâm lý “đóng cửa bảo nhau” vẫn khá phổ biến trong cộng đồng. Không ít trường hợp người dân dù nhận thấy dấu hiệu bất thường ở trẻ nhưng vẫn chọn im lặng vì e ngại liên lụy hoặc cho rằng đó là chuyện nội bộ gia đình.

Điều này khiến trẻ em mất đi một lớp bảo vệ quan trọng ngay từ môi trường xung quanh.

Liên quan đến Tổng đài 111 về điện thoại quốc gia bảo vệ trẻ em tại Việt Nam, bà Thắng cho rằng kênh tiếp nhận thông tin này đã phát huy vai trò nhất định, song hiệu quả chưa đồng đều do hạn chế về nhận thức xã hội và sự phối hợp liên ngành chưa thật sự chặt chẽ.

Đặc biệt, bà Thắng cho rằng trường học và cơ sở y tế được xem là “điểm chạm đầu tiên” để phát hiện sớm dấu hiệu bất thường ở trẻ.

Làm rõ hơn vấn đề này, ông Phạm Đình Nghinh, Phó Chủ tịch Thường trực Hội Bảo vệ Quyền Trẻ em TP.HCM, nhận định những bất cập trong bảo vệ trẻ em không chỉ nằm ở từng vụ việc mà còn ở cách tổ chức, vận hành hệ thống cơ sở, đặc biệt là phân công trách nhiệm tại cấp xã.

bạo hành (4).jpg
Ông Phạm Đình Nghinh, Phó Chủ tịch Thường trực Hội Bảo vệ Quyền Trẻ TP.HCM. Ảnh: HẢI NHI

“Ở các bộ phận như y tế, văn hóa - xã hội, đã có người chịu trách nhiệm chính về bảo vệ em, tuy vậy họ có đủ quỹ thời gian, điều kiện làm việc và năng lực chuyên môn để theo sát hay không?” - ông nêu vấn đề.

Ông Nghinh cho rằng nhiều cán bộ hiện vẫn kiêm nhiệm, chưa được đào tạo bài bản về công tác xã hội. Tuy nhiên, việc nhận diện nguy cơ bạo hành đòi hỏi kỹ năng chuyên sâu. Vì vậy, nếu thiếu nền tảng chuyên môn, rất khó phát hiện sớm các dấu hiệu bất thường.

Bên cạnh đó, cơ chế phối hợp ở cơ sở còn thiếu hệ thống, thiếu quy trình và đầu mối điều phối, khiến việc theo dõi, can thiệp dễ bị gián đoạn.

Từ đó, ông Nghinh đề xuất cần sắp xếp lại hệ thống theo hướng xác định rõ đơn vị đầu mối chịu trách nhiệm chính, đồng thời thiết lập cơ chế phối hợp liên ngành hiệu quả tránh tình trạng phân tán trách nhiệm.

“Trước mắt tận dụng nguồn lực hiện có nhưng phải đào tạo lại, tăng giám sát, và về lâu dài xây dựng đội ngũ công tác xã hội chuyên nghiệp, đồng thời rà soát toàn bộ hệ thống để kịp thời khắc phục các khoảng trống” - ông Nghinh đề xuất.

Ông NGUYỄN TĂNG MINH, Phó Giám đốc Sở Y tế TP.HCM:

Siết chặt cơ chế phối hợp liên ngành

bạo hành (1).jpg

Tại TP.HCM, “mô hình một cửa” trong tiếp nhận và xử trí các trường hợp trẻ em nghi bị bạo hành, xâm hại đang được triển khai tại một số bệnh viện như Bệnh viện Nhi đồng 1, Bệnh viện Nhi đồng TP, Bệnh viện Hùng Vương và Bệnh viện Chấn thương Chỉnh hình TP.HCM.

Khi tiếp nhận trường hợp nghi bạo hành, các cơ sở y tế ưu tiên hàng đầu là cấp cứu, điều trị và ổn định thể trạng, tâm lý cho trẻ. Đây được xem là bước “chặn nguy cơ khẩn cấp”, giúp bảo đảm an toàn tính mạng trước khi chuyển sang giai đoạn bảo vệ xã hội.

Sau điều trị cấp cứu, trẻ được chuyển về Trung tâm Công tác xã hội - Giáo dục dạy nghề thiếu niên TP.HCM để chăm sóc tạm thời khoảng 3 tháng, kết hợp sàng lọc sức khỏe, hỗ trợ tâm lý và đánh giá hoàn cảnh.

Trên cơ sở đó, cơ quan chức năng phối hợp địa phương xây dựng phương án phù hợp, như tái hòa nhập gia đình có giám sát hoặc tiếp tục bảo trợ dài hạn.

Đối với những trường hợp đặc biệt như bé trai 2 tuổi đang điều trị, dự kiến sau giai đoạn theo dõi tại TP.HCM, trẻ sẽ được chuyển tiếp đến Trung tâm Bảo trợ xã hội Bà Rịa - Vũng Tàu để tiếp tục chăm sóc trong môi trường ổn định và an toàn hơn.

Hiện nay, TP.HCM đã bước đầu hình thành cơ chế phối hợp giữa các cơ sở y tế và các lực lượng liên quan trong tiếp nhận, xử lý kịp thời các trường hợp trẻ em nghi bị bạo hành, qua đó góp phần nâng cao hiệu quả can thiệp ban đầu và hạn chế nguy cơ tổn thương kéo dài cho trẻ.

Do đó, thời gian tới cần tiếp tục siết chặt cơ chế phối hợp, gắn rõ trách nhiệm từng ngành, từng cấp và phát huy vai trò của gia đình, nhà trường cùng cộng đồng trong việc phát hiện sớm, báo tin kịp thời và bảo vệ trẻ em ngay từ cơ sở.

ThS. TRẦN CÔNG BÌNH, Phó Chủ tịch Hội Khoa học Tâm lý - Giáo dục TP.HCM:

Kinh nghiệm quốc tế trong bảo vệ trẻ em: Gợi mở cho Việt Nam

Tại Úc, Canada và Anh, mô hình “Hệ thống bảo vệ trẻ em” được triển khai theo hướng quản lý nguy cơ chủ động và can thiệp liên ngành. Mọi nghi ngờ trẻ bị bạo hành được xem là vấn đề xã hội cần can thiệp, không chỉ là chuyện nội bộ gia đình.

Mô hình này vận hành dựa trên ba trụ cột: Cơ chế báo tin và đường dây nóng; đội ngũ công tác xã hội chuyên nghiệp để đánh giá nguy cơ tại gia đình; và hệ thống theo dõi sau can thiệp nhằm hạn chế tái diễn. Đáng chú ý, tại nhiều bang của Úc và Canada, giáo viên, nhân viên y tế và người làm công tác chăm sóc trẻ em có nghĩa vụ pháp lý phải báo cáo khi phát hiện hoặc nghi ngờ bạo hành.

Thay vì chờ khi trẻ có thương tích nghiêm trọng mới xử lý, hệ thống chủ động nhận diện sớm các yếu tố nguy cơ như bạo lực gia đình, nghiện ma túy, rối loạn tâm lý hoặc bỏ mặc kéo dài, qua đó chuyển trọng tâm từ xử lý hậu quả sang phòng ngừa.

Tại Singapore, mô hình “cảnh báo sớm - can thiệp sớm” được triển khai thông qua phối hợp liên ngành giữa nhà trường, y tế, cảnh sát và cơ quan bảo vệ trẻ em.

Khi trẻ có dấu hiệu bất thường như nghỉ học kéo dài, sợ hãi, chậm phát triển hoặc thương tích nghi vấn, hệ thống sẽ kích hoạt đánh giá nguy cơ ngay từ đầu, đồng thời can thiệp cả gia đình bằng tư vấn, hỗ trợ xã hội và trị liệu tâm lý.

Trong khi đó, Philippines và Indonesia phát triển mô hình “mạng lưới bảo vệ trẻ em cộng đồng”, huy động lực lượng tại cơ sở như tình nguyện viên, hội phụ nữ, trưởng khu phố và các tổ chức tôn giáo.

Các lực lượng này được tập huấn để phát hiện sớm dấu hiệu nguy cơ và phối hợp xử lý, phù hợp với bối cảnh nguồn lực chuyên môn còn hạn chế nhưng mạng lưới cộng đồng rộng.

Đọc thêm