Tháng 5-1968, khi đang đảm nhiệm vị trí Phó Bí thư Trung ương Cục miền Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh cho gọi ông Lê Đức Thọ về gấp Hà Nội để chuẩn bị sang Paris làm cố vấn cao cấp Đoàn đại biểu Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tại Hội nghị Paris. Trong lá thư viết tay gửi Bộ Chính trị, Chủ tịch Hồ Chí Minh ghi rõ: “…Anh Sáu (Lê Đức Thọ) nên về ngay (trước tháng 5-1968) để tham gia phái đoàn ta đi gặp đại biểu Mỹ”.

Cuộc đấu trí với “bộ óc thông thái nước Mỹ”

Trưởng đoàn đàm phán của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa khi ấy là ông Xuân Thủy, song Cố vấn của đoàn Lê Đức Thọ mới là người lãnh đạo và truyền đạt ý kiến của Trung ương, của Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng như đưa ra các quyết định trong đàm phán.

Trước khi đoàn đàm phán lên đường, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã căn dặn: “Đừng để nước Mỹ bẽ bàng, đừng xúc phạm nhân dân Mỹ vì Việt Nam chỉ chiến đấu với giới cầm quyền hiếu chiến của Mỹ, về nguyên tắc quyết không nhượng bộ song về phương pháp thì “dĩ bất biến, ứng vạn biến”.

Lê Đức Thọ - Nhà ngoại giao 'khổng lồ' - ảnh 1
Đồng chí Lê Đức Thọ và Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ II, từ ngày 5-10/9/1960. Ảnh: TTXVN

Cố vấn đoàn đàm phán phía Mỹ là TS. H.Kissinger, một người được xem là bộ óc thông thái của nước Mỹ song đã phải thừa nhận “đối thủ” Lê Đức Thọ: “Tôi có thể làm tốt hơn nếu như đối diện trên bàn đàm phán không phải là ông Lê Đức Thọ!”.

Cuộc đàm phán ở Paris thật sự là cuộc đấu trí giữa Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và phía Mỹ. Rất nhiều lần người Mỹ đã lật lọng và không dễ dàng chấp nhận thua cuộc cũng như không muốn “bỏ rơi” chính quyền Nguyễn Văn Thiệu. Vì vậy, phía Mỹ nhiều lần trì hoãn hoặc đưa ra những đòi hỏi phi lý, không thể chấp nhận.

Để gây áp lực và buộc Việt Nam Dân chủ cộng hòa phải chấp nhận ký kết hiệp định với những điều khoản có lợi cho phía Mỹ và chế độ Sài Gòn, Tổng thống Mỹ Nixon đã ra lệnh bắn phá miền Bắc Việt Nam cuối năm 1972. Thất bại thảm hại trên bầu trời Hà Nội đã buộc phía Mỹ phải xuống thang và đề nghị Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ngồi vào bàn đàm phán.

Trở lại Paris, trong cuộc họp với phía Mỹ ngày 8-1-1973, cố vấn đặc biệt Lê Đức Thọ đã nghiêm khắc lên án phía Mỹ gây ra đợt ném bom hủy diệt trong mùa Noel năm 1972… Sau gần 1 tháng nối lại đàm phán, ngày 23-1-1973, hai bên đạt được thỏa thuận cuối cùng và ký tắt hiệp định cùng 4 nghị định thư.

Đến ngày 27-1-1973, ngoại trưởng của bốn bên gồm: Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Cộng hòa miền Nam Việt Nam, Hoa Kỳ và Việt Nam Cộng hòa đã ký chính thức Hiệp định Paris vào ngày 27-1-1973, kết thúc cuộc đàm phán lịch sử kéo dài 5 năm với nhiều phiên họp gay cấn.

“Nhà ngoại giao khổng lồ”

Với việc ký kết Hiệp định Paris năm 1973, ông Lê Đức Thọ được trao tặng giải Nobel năm 1973 cùng với Henry Kissinger, nhưng ông từ chối nhận giải với lý do hòa bình vẫn chưa thực sự lập lại trên đất nước Việt Nam.

Lê Đức Thọ - Nhà ngoại giao 'khổng lồ' - ảnh 2
Đồng chí Lê Đức Thọ, Cố vấn đặc biệt của Đoàn đại biểu Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Cố vấn đặc biệt của Tổng thống Mỹ, Tiến sỹ Henry Kissinger, sau buổi họp riêng cuối cùng trước khi ký Hiệp định Paris, chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam (1-1973). Ảnh: TTXVN

Trả lời phỏng vấn phóng viên Hãng tin UPI (Mỹ) năm 1985, cố vấn Lê Đức Thọ đã giải thích rõ nguyên nhân ông không nhận giải Nobel hòa bình cùng Henry Kissinger: “… Mỹ tiến hành xâm lược đất nước tôi 20 năm. Người chống Mỹ và làm cho Mỹ thất bại, giành độc lập đưa hòa bình cho đất nước và cho cả khu vực này là chúng tôi. Người làm hòa bình là chúng tôi chứ không phải Mỹ (…). Coi chúng tôi cũng như Mỹ. Điều đó là sai lầm và tôi không thể chấp nhận như vậy. Vì vậy, tôi đã không nhận Giải thưởng Nobel!”.    

Nguyên Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Duy Niên đánh giá về ông Lê Đức Thọ: “Ông là nhà ngoại giao khổng lồ. Ông khổng lồ ở chỗ đối phương đối thoại với Lê Đức Thọ là Kissinger, một học giả rất lớn của Mỹ thời đó. Lúc đó, Kissinger rất ngạo mạn, những tưởng có thể đè bẹp Lê Đức Thọ nhưng không thể được. Ví như làm thế nào để thống nhất được với Mỹ về vấn đề Mỹ phải rút quân. Mỹ muốn nếu Mỹ rút quân thì miền Bắc cũng phải rút quân khỏi miền Nam, đánh đồng như thế không thể được. Cuối cùng, ông Lê Đức Thọ đưa ra một công thức đó là vấn đề quân đội Việt Nam ở lãnh thổ Việt Nam do các bên Việt Nam giải quyết với nhau. Còn việc Mỹ rút quân là chuyện Mỹ phải rút. Tôi nghĩ trí tuệ của ông ở chỗ tìm một giải pháp đúng với lợi ích của mình”…  

Có nhiều gắn bó với cách mạng miền Nam

Ông Lê Đức Thọ, tên khai sinh là Phan Đình Khải, sinh ngày 10-10-1911 tại xã Địch Lễ, huyện Mỹ Lộc, tỉnh Nam Định, nay là xã Nam Vân, TP Nam Định, tỉnh Nam Định. Ông Lê Đức Thọ là một trong những nhà cách mạng thuộc lớp đầu tiên của Đảng Cộng sản Việt Nam và có nhiều đóng góp lớn.

Ông sớm tham gia cách mạng trong các phong trào yêu nước truy điệu nhà chí sĩ yêu nước Phan Chu Trinh. Ông là thành viên của Đông Dương Cộng sản Đảng năm 1929. Tháng 11-1930, Lê Đức Thọ bị thực dân Pháp bắt, kết án 10 năm tù khổ sai, đày ra nhà tù Côn Đảo. Tại đây, ông được cử làm Bí thư Chi bộ và Thường vụ Chi ủy nhà tù.

Ngoài việc bị giam giữ ở “địa ngục trần gian” Côn Đảo, Lê Đức Thọ còn trải qua rất nhiều năm bị giam cầm ở các nhà lao Hà Nội, Sơn La, Hòa Bình. Tháng 9-1944, sau khi thoát khỏi nhà tù của thực dân Pháp, ông được Trung ương Đảng giao phụ trách công tác khu an toàn của Trung ương, công tác tổ chức và huấn luyện cán bộ, sau đó được chỉ định là ủy viên Trung ương Đảng và trực tiếp phụ trách Xứ ủy Bắc kỳ rồi được cử vào Ban Thường vụ Trung ương Đảng tháng 8-1945 và được giao phụ trách công tác tổ chức của Đảng.

Năm 1948, ông Lê Đức Thọ thay mặt Trung ương Đảng tham gia Đoàn đại biểu Đảng và Chính phủ vào miền Nam công tác. Năm 1949, ông làm Phó bí thư Xứ ủy Nam bộ. Kể từ đó, ông gắn bó mật thiết và trở thành nhà lãnh đạo chủ chốt của Đảng ở miền Nam.

Trên cương vị Phó bí thư Xứ ủy Nam bộ (năm 1949) và sau đó làm Trưởng ban Tổ chức Trung ương Cục miền Nam (từ 1949-1954), ông Lê Đức Thọ gắn chặt với ngành Tổ chức của Đảng. Ngay từ rất sớm, ông đã quan tâm đến vai trò của công tác cán bộ đối với sự nghiệp cách mạng. Vì vậy, trong những năm phụ trách công tác này ở miền Nam, Xứ ủy Nam bộ đã rất quan tâm chăm lo xây dựng kiện toàn bộ máy lãnh đạo, chỉ đạo của Xứ ủy, củng cố và thành lập mới các ban chuyên môn, cử cán bộ đi cơ sở để nắm tình hình. Ngay trong những ngày kháng chiến ác liệt ấy, Xứ ủy đã mở rất nhiều lớp bồi dưỡng cán bộ, đặc biệt là đã xây dựng Trường Đảng Trường Chinh để đào tạo cán bộ.

Sau này, trong kháng chiến chống Mỹ, ông lại được cử vào miền Nam sau cuộc Tổng tiến công Tết Mậu Thân năm 1968 để đảm nhiệm nhiệm vụ Phó bí thư Trung ương Cục miền Nam. Trong Tổng tiến công, nổi dậy mùa Xuân năm 1975, ông tiếp tục được Bộ Chính trị giao nhiệm vụ làm đại diện của Bộ Chính trị chỉ đạo Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử.

Trên cương vị đặc biệt quan trọng này, ông đã góp phần quan trọng cùng quân và dân cả nước giành thắng lợi, thống nhất đất nước. Sau khi miền Nam được hoàn toàn giải phóng, đất nước thống nhất (30-4-1975), ông Lê Đức Thọ tiếp tục được phân công làm Phó ban đại diện của Đảng và Chính phủ ở miền Nam.