Vàng thế giới giảm sâu, chênh lệch giá với trong nước nới rộng

(PLO)- Giá vàng trong nước bật tăng sau kỳ nghỉ lễ nhưng giá thế giới lại trượt sâu dưới mốc 4.600 USD/ounce, nới rộng chênh lệch lên hơn 20 triệu đồng/lượng.

0:00 / 0:00
0:00
  • Nam miền Bắc
  • Nữ miền Bắc
  • Nữ miền Nam
  • Nam miền Nam

Diễn biến trái chiều giữa hai thị trường đẩy giá vàng vào thế phân hóa rõ nét: Vàng trong nước tăng trở lại còn giá thế giới lại trượt dưới 4.600 USD/ounce, làm chênh lệch nới rộng mạnh.

Giá vàng miếng “chợ đen” vẫn thấp hơn niêm yết

Ngày 4-5, giá vàng miếng tại các doanh nghiệp kinh doanh vàng lớn như Công ty vàng bạc đá quý Sài Gòn, Công ty vàng bạc đá quý Phú Nhuận, Tập đoàn vàng bạc đá quý DOJI, Tập đoàn vàng bạc đá quý Phú Quý, Bảo Tín Minh Châu… đồng loạt niêm yết giá mua bán ở mức 163,6 - 166,6 triệu đồng/lượng, tăng thêm 600.000 đồng mỗi lượng so với trước chuỗi ngày nghỉ lễ.

Trong khi đó, Công ty Mi Hồng giữ nguyên giá mua vào ở mức 164,2 triệu đồng/lượng và giảm 300.000 đồng/lượng ở chiều bán.

Trên thị trường tự do, vàng miếng SJC giao dịch phổ biến quanh mức 164,5 triệu đồng/lượng (mua) và 166 triệu đồng/lượng (bán), tăng thêm 500.000 đồng/lượng ở cả hai chiều so với phiên gần nhất. Dù vậy, giá bán vàng miếng SJC “chợ đen” vẫn thấp hơn giá niêm yết 600.000 đồng/lượng.

Đối với các loại vàng nhẫn trơn 24K, mức tăng dao động từ 300.000 - 600.000 đồng/lượng tùy doanh nghiệp. Đơn cử tại Công ty SJC, giá vàng nhẫn trơn được cộng thêm 600.000 đồng/lượng, neo giá mua bán ở mức 163,1 - 166,1 triệu đồng/lượng. Công ty PNJ tăng thêm 500.000 đồng/lượng, đưa giá mua bán lên 163,5 - 166,5 triệu đồng/lượng. Trong khi đó Phú Quý chỉ cộng thêm 300.000 đồng/lượng, neo giá giao dịch vàng nhẫn trơn ở mức 163,3 – 166,3 triệu đồng/lượng… Dù biên độ điều chỉnh tăng lệch nhau, các doanh nghiệp vẫn giữ khoảng cách chênh lệch giữa hai chiều mua bán ở mức 3 triệu đồng/lượng.

Trên thị trường quốc tế, giá vàng giao ngay giảm 24 USD/ounce so với cuối tuần trước, dao động quanh mốc 4.587 USD/ounce. Quy đổi theo tỉ giá tại các ngân hàng thương mại, giá vàng thế giới tương đương 145,8 triệu đồng/lượng, chưa bao gồm thuế, phí. Ở vùng giá này, giá kim loại quý màu vàng trên thị trường quốc tế đang thấp hơn giá vàng trong nước khoảng 21 triệu đồng mỗi lượng.

giá-vàng_5.jpg
Giá vàng trong nước đang đắt hơn giá vàng thế giới khoảng 20-21 triệu đồng mỗi lượng. Ảnh: T.L

Vàng thế giới mắc kẹt giữa áp lực lãi suất và cú sốc giá dầu

Giá vàng thế giới đang bước vào một giai đoạn “khó ở” khi cú sốc giá dầu bất ngờ thổi bùng áp lực lạm phát, buộc các ngân hàng trung ương phải tính toán lại lộ trình chính sách tiền tệ, không chỉ trì hoãn việc giảm lãi suất điều hành mà có thể phải duy trì mặt bằng lãi suất cao trong thời gian lâu hơn.

Kịch bản từng được nhiều chuyên gia kỳ vọng cho năm 2026, lạm phát hạ nhiệt và chu kỳ cắt giảm lãi suất dần rõ nét, đang đảo chiều nhanh chóng.

Thay vào đó là trạng thái “chờ và quan sát” mang tính phòng thủ, khi lạm phát do năng lượng khiến triển vọng chính sách trở nên phức tạp hơn. Dù việc tăng lãi suất chưa phải lựa chọn trung tâm, kỳ vọng nới lỏng đã bị đẩy lùi đáng kể, kéo theo chi phí cơ hội nắm giữ vàng gia tăng, yếu tố vốn bất lợi với tài sản không sinh lợi suất.

Diễn biến thực tế từ các ngân hàng trung ương lớn cho thấy xu hướng này đang lan rộng. Tại Mỹ, Cục Dự trữ Liên bang (Fed) tiếp tục giữ lãi suất trong vùng 3,5% - 3,75%/năm, phát tín hiệu duy trì mặt bằng cao lâu hơn dự kiến. Tương tự, Ngân hàng Trung ương châu Âu (ECB) cũng chưa vội nới lỏng, giữ nguyên lãi suất chính sách ở mức 2%/năm.

Ở châu Á, lập trường thận trọng tiếp tục được củng cố. Ngân hàng Trung ương Nhật Bản (BOJ) duy trì lãi suất 0,75%/năm sau khi kết thúc cuộc họp chính sách vào cuối tháng 4 vừa qua, trong bối cảnh rủi ro lạm phát nhập khẩu gia tăng.

Trước đó, Ngân hàng Nhân dân Trung Quốc (PBoC) cũng giữ nguyên lãi suất cơ bản (LPR) tháng thứ 11 liên tiếp, với kỳ hạn 1 năm ở 3%/năm và kỳ hạn 5 năm ở mức 3,5%/năm, cho thấy dư địa nới lỏng đang bị thu hẹp đáng kể.

Việc Mỹ neo lãi suất USD ở mức cao trong bối cảnh giá dầu leo thang đã đặt các ngân hàng trung ương tại các thị trường mới nổi vào tình thế khó khăn.

  • Thứ nhất là áp lực tỉ giá, đó là khi đồng USD mạnh lên khiến nội tệ chịu sức ép mất giá, buộc nhà điều hành phải can thiệp hoặc duy trì mặt bằng lãi suất đủ cao để ổn định thị trường ngoại hối.
  • Thứ hai, lạm phát nhập khẩu do chi phí nhiên liệu thế giới tăng buộc các cơ chế điều hành giá xăng dầu nội địa phải thích ứng, từ đó tác động đến chỉ số giá tiêu dùng (CPI).
  • Thứ ba là làm thu hẹp dư địa điều hành, bởi lẽ khi rủi ro lạm phát quay trở lại, không gian để hạ lãi suất nhằm hỗ trợ tăng trưởng bị co hẹp đáng kể, buộc chính sách tiền tệ phải ưu tiên ổn định vĩ mô hơn là kích thích kinh tế.

Không chỉ vậy, sự thay đổi này cũng đủ để làm xáo trộn cách thị trường vận hành của kim loại quý. Vàng không còn đơn thuần được định giá như một “hầm trú ẩn” truyền thống mà ngày càng nhạy cảm hơn với kỳ vọng lãi suất, trong bối cảnh những kỳ vọng này đang dịch chuyển theo hướng bất lợi.

Theo báo cáo về triển vọng tháng 4 của Ngân hàng Thế giới, kinh tế toàn cầu đang đối mặt với cú sốc nguồn cung dầu lớn chưa từng có khi căng thẳng Trung Đông leo thang. Giá dầu Brent đã bật mạnh từ 72 USD/thùng lên đỉnh 118 USD/thùng trong tháng 3 và dự báo giá năng lượng có thể tăng thêm 24% trong năm 2026.

Dù vậy, nền tảng cơ bản của vàng chưa hề suy yếu. Bởi theo dữ liệu từ Hội đồng Vàng Thế giới, tổng nhu cầu mua vàng trong quý I vẫn tăng 2% so với cùng kỳ, đạt 1.231 tấn, trong khi giá trị tăng vọt 74% lên kỷ lục 193 tỉ USD. Đáng chú ý, nhu cầu đầu tư dẫn dắt xu hướng với lượng vàng thỏi và tiền xu tăng 42%, lên 474 tấn, mức cao thứ hai trong lịch sử theo quý.

Ở góc nhìn dài hạn, nhiều tổ chức vẫn giữ quan điểm tích cực. Bank of America duy trì mục tiêu giá vàng có thể đạt mốc 6.000 USD/ounce trong 12 tháng tới đây, dựa trên các yếu tố mang tính cấu trúc như gánh nặng nợ toàn cầu và rủi ro địa chính trị kéo dài.

Ngân hàng Thế giới cũng dự báo giá vàng sẽ neo ở vùng cao với mức trung bình khoảng 4.700 USD/ounce trong năm 2026.

Tuy nhiên, đây là giai đoạn cuối của chu kỳ tăng, khi giá cao nhưng đồng thời phải đối mặt với lực cản lớn hơn từ môi trường lãi suất.

Sự giằng co giữa hai lực đối nghịch là lạm phát củng cố vai trò trú ẩn của vàng, trong khi lãi suất cao lại kìm hãm đà tăng, đang chi phối diễn biến thị trường.

Trong ngắn hạn, vàng khá nhạy cảm với những thay đổi chính sách và dễ chịu áp lực điều chỉnh. Tuy nhiên, xét về dài hạn, khi nợ công toàn cầu tiếp tục phình to và rủi ro địa chính trị còn kéo dài, xu hướng tăng của vàng vẫn được giữ vững, dù hành trình phía trước sẽ biến động và khó lường hơn.

Đừng bỏ lỡ

Video đang xem nhiều

Đọc thêm