Công nghiệp văn hóa hướng tới ngành kinh tế mũi nhọn từ nền tảng bản sắc

(PLO)- Phát triển công nghiệp văn hóa dựa trên bản sắc dân tộc, hoàn thiện thể chế, thúc đẩy sáng tạo, nâng cao lực cạnh tranh và tăng trưởng kinh tế.

Ngày 5-6, Trường Đại học Văn hóa TP.HCM phối hợp với Báo Văn hóa tổ chức hội thảo khoa học với chủ đề “Phát triển công nghiệp văn hóa trong kỷ nguyên số”.

Hội thảo nhằm quán triệt Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam, đồng thời là diễn đàn nhìn nhận toàn diện thực trạng công nghiệp văn hóa, với cả cơ hội và thách thức.

Thúc đẩy công nghiệp văn hóa thành ngành kinh tế mũi nhọn

Tại hội thảo, ông Lê Minh Tuấn, Phó Cục trưởng Cục Bản quyền tác giả (Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch), cho biết những năm gần đây, các ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam có bước phát triển tích cực, từng bước hình thành hệ sinh thái sáng tạo đa dạng với sự tham gia của nhiều doanh nghiệp, sản phẩm văn hóa số và mô hình kinh doanh mới.

Ông Lê Minh Tuấn, Phó Cục trưởng Cục Bản quyền tác giả (Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch). Ảnh: BTC

Giai đoạn 2018-2022, lĩnh vực này ghi nhận tăng trưởng nhưng chưa ổn định, tỷ trọng đóng góp vào GDP tăng từ khoảng 3,6% lên trên 4%. Từ năm 2023 đến 2025, công nghiệp văn hóa phục hồi tích cực sau đại dịch, nổi bật ở các lĩnh vực du lịch văn hóa, nghệ thuật biểu diễn và nội dung số, dù mức độ phục hồi chưa đồng đều.

Đáng chú ý, năm 2023, giá trị gia tăng của công nghiệp văn hóa đạt 513,7 nghìn tỷ đồng, đóng góp 4,98% GDP; năm 2024 đạt 586,3 nghìn tỷ đồng, tương đương 5,09% GDP, tăng 7,48% so với năm trước.

Theo ông Lê Minh Tuấn, Nghị quyết số 80-NQ/TW đã đặt công nghiệp văn hóa vào vị trí trung tâm trong chiến lược phát triển văn hóa quốc gia thời kỳ mới, thể hiện bước chuyển quan trọng từ tiếp cận “hành chính – sự nghiệp” sang “kinh tế sáng tạo – thị trường văn hóa”.

Công nghiệp văn hóa không chỉ bao gồm các hoạt động sáng tạo truyền thống mà còn mở rộng sang nhiều lĩnh vực mới như điện ảnh, âm nhạc số, trò chơi điện tử, thiết kế sáng tạo, quảng cáo, nội dung số, mỹ thuật, du lịch văn hóa và nghệ thuật biểu diễn. Đây là những lĩnh vực tạo giá trị kinh tế lớn, thu hút đầu tư, tạo việc làm và thúc đẩy đổi mới sáng tạo.

Theo định hướng Chiến lược phát triển các ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn 2045, Việt Nam ưu tiên phát triển 10 ngành, gồm: điện ảnh; mỹ thuật, nhiếp ảnh và triển lãm; nghệ thuật biểu diễn; phần mềm và trò chơi giải trí; quảng cáo; thủ công mỹ nghệ; du lịch văn hóa; thiết kế sáng tạo; truyền hình và phát thanh; xuất bản.

Trong đó, 6 ngành trọng tâm là điện ảnh, nghệ thuật biểu diễn, phần mềm và trò chơi giải trí, quảng cáo, thủ công mỹ nghệ và du lịch văn hóa.

Đồng quan điểm, TS Nguyễn Anh Vũ, Tổng Biên tập Báo Văn hóa, cho biết Nghị quyết số 80-NQ/TW nhấn mạnh việc tập trung phát triển có trọng tâm, trọng điểm một số lĩnh vực công nghiệp văn hóa như điện ảnh, âm nhạc, mỹ thuật, du lịch văn hóa, thiết kế, thời trang, thủ công truyền thống, trò chơi điện tử, ẩm thực và phần mềm, nội dung số.

TS Nguyễn Anh Vũ, Tổng Biên tập Báo Văn hóa. Ảnh: BTC

Cùng với đó, việc nghiên cứu, xây dựng thí điểm các mô hình ứng dụng công nghệ cao trong toàn bộ chuỗi giá trị của các ngành công nghiệp văn hóa, từ sáng tạo, sản xuất, phân phối đến tiêu thụ và bảo vệ bản quyền, cũng được đặt ra.

TS Nguyễn Anh Vũ cho biết thêm, các nghị quyết của Bộ Chính trị, Chính phủ và Quốc hội, cùng chương trình hành động của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã xác lập rõ vai trò của văn hóa trong chiến lược phát triển đất nước.

“Công nghiệp văn hóa được xác định là một trong những hướng đi quan trọng nhằm chuyển hóa tiềm năng văn hóa thành nguồn lực phát triển, từng bước trở thành ngành kinh tế có đóng góp đáng kể vào tăng trưởng, tạo việc làm, thúc đẩy đổi mới sáng tạo và nâng cao hình ảnh Việt Nam trên trường quốc tế” - TS Nguyễn Anh Vũ nhấn mạnh.

Phát triển công nghiệp văn hóa phải dựa trên nền tảng bản sắc dân tộc

Cũng tại hội thảo, PGS.TS Lâm Nhân, Hiệu trưởng Trường Đại học Văn hóa TP.HCM, cho rằng vấn đề đặt ra đối với công nghiệp văn hóa Việt Nam là cần xác định nền tảng phát triển phù hợp để vừa hội nhập quốc tế, vừa giữ gìn bản sắc dân tộc.

Theo ông, thực tiễn quốc tế cho thấy các quốc gia có công nghiệp văn hóa phát triển đều dựa trên nền tảng văn hóa truyền thống và hệ giá trị riêng. Điển hình như Hàn Quốc với làn sóng Hallyu, Nhật Bản với anime gắn với văn hóa bản địa, hay Trung Quốc khai thác yếu tố văn hóa cổ truyền trong điện ảnh, du lịch và truyền thông số.

Từ đó, PGS.TS Lâm Nhân nhấn mạnh cần nhìn nhận di sản văn hóa không chỉ là đối tượng bảo tồn, mà còn là nguồn lực nội sinh quan trọng, góp phần tạo nên bản sắc, sức hấp dẫn và lợi thế cạnh tranh cho công nghiệp văn hóa Việt Nam. Đây cũng là yêu cầu để Việt Nam phát triển trong kỷ nguyên mới mà không đánh mất cội nguồn văn hóa dân tộc.

Các đại biểu tham dự hội thảo. Ảnh: BTC

Cùng quan điểm, PGS.TS Nguyễn Thị Thu Phương, Viện trưởng Viện Văn hóa, Nghệ thuật, Thể thao và Du lịch Việt Nam, cho biết tư duy phát triển công nghiệp văn hóa tại Việt Nam đang chuyển từ tiếp cận ngành văn hóa sang tiếp cận hệ sinh thái sáng tạo, gắn với dữ liệu, nền tảng số, đổi mới sáng tạo và sức mạnh mềm quốc gia.

Theo bà, sự biến động của thị trường sáng tạo, du lịch văn hóa, nội dung số và mạng lưới các thành phố sáng tạo UNESCO cho thấy yêu cầu hoàn thiện thể chế công nghiệp văn hóa không chỉ dừng ở hỗ trợ hoạt động văn hóa, mà cần chuyển mạnh sang kiến tạo năng lực quản trị hệ sinh thái sáng tạo trong cả môi trường thực và môi trường số.

Đáng chú ý, thách thức lớn hiện nay là khoảng cách ngày càng gia tăng giữa tốc độ biến đổi của môi trường sáng tạo số và năng lực thích ứng của hệ thống quản trị văn hóa truyền thống.

Do đó, việc triển khai Nghị quyết số 80-NQ/TW cần được đẩy mạnh theo hướng hoàn thiện thể chế phát triển công nghiệp văn hóa, gắn với nâng cao năng lực quản trị hệ sinh thái sáng tạo, đáp ứng yêu cầu phát triển trong bối cảnh mới.

Đừng bỏ lỡ

Video đang xem nhiều

Đọc thêm

Đọc nhiều
Tiện ích
Tin mới