TAND tỉnh Cà Mau vừa qua đã ban hành bản án phúc thẩm vụ tranh chấp hợp đồng vay tài sản giữa nguyên đơn là vợ chồng ông V và bị đơn là ông Đ, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là vợ ông Đ.
Gần 800 triệu để mua lúa
Theo đó, nguyên đơn trình bày, ông Đ là người đi mua lúa của người dân để bán lại. Vợ chồng ông V bỏ tiền ra để mua lúa từ ông Đ với mục đích cũng là để bán lại.
Ngày 9-12-2024, nguyên đơn giao tiền 500 triệu đồng qua chuyển khoản cho ông Đ. Đến ngày 16-12-2024, ông Đ kêu ông đi nhận lúa. Ông V đi một mình đến Vĩnh Thuận, tỉnh Kiên Giang (cũ) gặp ông Đ, cùng ông Đ đi ra ruộng nhìn ông Đ thỏa thuận giá cả với người dân... Hôm sau, ông giao thêm cho ông Đ 299 triệu đồng cũng là để mua lúa của ông Đ.
Đến ngày 19-12-2024 ông Đ kêu ông V về rồi ông Đ sẽ giao lúa sau nhưng sau đó vẫn không có lúa.
Theo ông V, ông Đ xác định nếu có lúa sẽ giao cho ông, nếu không có lúa thì số tiền ông giao cho ông Đ xem như là tiền ông Đ vay của ông V. 10 ngày sau đó, ông Đ chuyển 10 triệu đồng lãi đối với số tiền 799 triệu đồng.
Sau đó, hai người gặp nhau, ông Đ đặt vấn đề số tiền 799 triệu đồng cho ông Đ vay thêm 3 tháng, thời hạn tính từ ngày 19-12-2024, ông Đ đóng lãi thêm 10 triệu đồng. Sau đó, ông Đ đã ký vào giấy xác nhận nợ, đóng lãi thêm 10 triệu.
Việc các ông thỏa thuận mua bán lúa với nhau chỉ thỏa thuận miệng, không lập thành văn bản. Nhưng tại các giấy chuyển tiền có thể hiện ông V chuyển tiền cho ông Đ với với nội dung là đặt cọc lúa.
Đến thời hạn trả nợ số tiền 799 ông Đ không thực hiện trả nợ. Nguyên đơn yêu cầu tòa án giải quyết buộc ông Đ và vợ trả cho ông bà số tiền vay còn nợ là 799 triệu và lãi suất 1%/ tháng, tính từ ngày 20-3-2025 cho đến khi trả dứt nợ.
Bị đơn, ông Đ cho rằng không vay tiền của nguyên đơn. Chữ ký tại giấy xác nhận nợ không phải do ông ký. Ông có nhận tiền của nguyên đơn hai lần, tổng số 799 triệu, là tiền nguyên đơn hùn vốn làm ăn với với ông, cụ thể là mua bán lúa. Hai bên không lập văn bản về việc hùn vốn nhưng ông V có cùng đi với ông đến nơi mua lúa để đặt cọc của người dân.
Thời điểm đặt cọc, giá lúa là 12.000 đồng/kg, sau đó lúa rớt giá còn 8.000 đồng – 9.000 đồng/kg. Do lúa rớt giá nên đã bỏ cọc, số tiền đặt cọc là 500 triệu. Còn số tiền 299 triệu dùng để mua lúa của người dân để bán lại, nhưng do lúa sụt giá nên đã thua lỗ hết.
Vợ chồng ông V bỏ ra 799 triệu còn ông đã bỏ ra trên 1 tỉ đồng, đã thua lỗ hết. Do đó, ông Đ không đồng ý với yêu cầu của nguyên đơn.
Ông Đ và vợ xác định ông bà đã ly thân nhau từ năm 2018, hai người sống ở hai nơi khác nhau. Vợ ông Đ nói bà không biết việc làm ăn mua bán hay nợ nần giữa ông Đ với vợ chồng ông V.
Tòa: có ký nhận nợ, còn quan hệ hôn nhân
Xử sơ thẩm, TAND khu vực 6 – Cà Mau đã buộc ông Đ và vợ có trách nhiệm trả cho vợ chồng ông V số tiền vay gốc là 799 triệu và tiền lãi hơn 45 triệu, tổng cộng là hơn 844 triệu. Sau đó, vợ chồng ông Đ đều có đơn kháng cáo bản án sơ thẩm.
Xử phúc thẩm, TAND tỉnh Cà Mau nhận định, ông Đ nói 799 triệu là tiền hùn vốn làm ăn nhưng ở cấp sơ thẩm ông không có chứng cứ gì chứng minh việc này, đến phúc thẩm ông có đơn xét xử vắng mặt nhưng cũng không cung cấp thêm chứng cứ về việc hùn vốn làm ăn này.
Ông Đ nói vì hùn vốn nên mới có nội dung chuyển khoản chia tiền lời nhưng ông V cho rằng ông chuyển tiền lời do ông Đ vay.
Hồ sơ vụ án có biên nhận nợ 799 triệu do ông Đ viết, kết luận giám định chữ ký ký nhận nợ do ông Đ viết.
Mặt khác, tòa cho rằng ông Đ nói trong quá trình kinh doanh thua lỗ hết số tiền 799 triệu thì phải chứng minh cụ thể số tiền kinh doanh thu chi như thế nào, có xác nhận của vợ chồng ông V. Còn ở đây chỉ là lời trình bày của ông Đ chưa đủ căn cứ có việc hùn vốn kinh doanh.
Về việc nợ ông Đ không liên quan gì đến vợ ông, tòa cho rằng ông Đ và vợ nói đã ly thân chỉ là lời trình bày của ông bà. Tình trạng hôn nhân giữa ông Đ và vợ vẫn tồn tại, chưa có văn bản pháp lý nào xác định hai người không phải là vợ chồng. Ông bà có hai địa chỉ chỗ ở cũng là bình thường, không có căn cứ nào nói địa chỉ hai nơi thì ông bà không phải là vợ chồng. Trong khi đó, chính quyền địa
phương xác nhận ông Đ vẫn sinh sống tại địa chỉ cũng là nơi vợ ông đang sinh sống.
Tòa cũng cho rằng không có tài liệu chứng cứ chứng minh ông Đ kinh doanh là chỉ để lo cho riêng bản thân ông Đ, ông Đ kinh doanh với mục đích phát triển kinh tế gia đình, chăm lo cho gia đình nên bản án sơ thẩm buộc vợ ông cùng có nghĩa vụ thanh toán nợ với ông là có căn cứ.
Từ đó, tòa phúc thẩm tuyên không chấp nhận kháng cáo của vợ chồng ông Đ, giữ y bản án sơ thẩm.