Không có bằng cử nhân luật nhưng có bằng thạc sĩ luật vẫn được làm luật sư: Nên hay không?

(PLO)- Nhiều ý kiến trái chiều về đề xuất người không có bằng cử nhân luật nhưng có bằng thạc sĩ, tiến sĩ luật vẫn có thể làm luật sư trong dự thảo Luật Luật sư (sửa đổi).

Như PLO đã đưa tin, Bộ Tư pháp đã công bố hồ sơ thẩm định dự thảo Luật Luật sư (sửa đổi). Dự luật lần này được sửa đổi một cách toàn diện với nhiều chính sách lớn từ tiêu chuẩn luật sư tới quy định thủ tục trở thành luật sư....

Theo Điều 7 dự thảo luật, đề xuất về tiêu chuẩn mới quy định muốn trở thành luật sư phải "có bằng từ cử nhân luật trở lên". Điều này có nghĩa những người có bằng thạc sĩ hay tiến sĩ luật nhưng không có bằng cử nhân luật vẫn đảm bảo tiêu chuẩn này. Trong khi Luật Luật sư hiện nay quy định tiêu chuẩn luật sư phải "có bằng cử nhân luật".

Để rộng đường dư luận, Pháp Luật TP.HCM ghi nhận ý kiến của một số chuyên gia:

Luật sư TRẦN CAO ĐẠI KỲ QUÂN, Đoàn Luật sư tỉnh Đồng Nai:

Nền tảng cử nhân luật là điều kiện quan trọng khi hành nghề luật sư

Cử nhân luật được trang bị kiến thức và kỹ năng lý luận. Đây là nền tảng và nền móng cho người làm nghề luật.

Luật sư Trần Cao Đại Kỳ Quân. Ảnh: THUẬN VĂN

Người chỉ có bằng thạc sĩ luật nhưng không được đào tạo ở bậc cử nhân luật sẽ khó có điều kiện tiếp cận đầy đủ hệ thống kiến thức lý luận cơ bản của ngành luật. Trong khi đó, chương trình thạc sĩ luật thường chỉ tập trung vào một số chuyên ngành nhất định, mang tính chuyên sâu hơn là trang bị kiến thức pháp lý tổng quát.

Do đó, luật sư cần có nền tảng kiến thức pháp lý tổng hợp và lý luận vững chắc được hình thành từ bậc cử nhân luật.

Nếu không được trang bị những kiến thức cơ bản này, việc hành nghề luật sư có thể gặp nhiều hạn chế, ảnh hưởng đến chất lượng đội ngũ luật sư cũng như chất lượng hoạt động tố tụng. Việc cung cấp dịch vụ pháp lý không bảo đảm chất lượng còn có thể tác động trực tiếp đến quyền và lợi ích hợp pháp của người dân nếu cung cấp dịch vụ pháp lý không đúng.

ThS NGUYỄN ĐỨC HIẾU, Đại học Quốc tế, ĐHQG TP.HCM:

Cần trang bị nền tảng kiến thức pháp lý toàn diện

Về phương diện lập pháp, đề xuất thay thế tiêu chuẩn "có bằng cử nhân luật" bằng "có bằng từ cử nhân luật trở lên" trong dự thảo Luật Luật sư (sửa đổi) là một bước điều chỉnh có tính mới đáng ghi nhận, dù về hình thức chỉ là thay đổi một vài từ ngữ. Thực chất, sửa đổi trong lần này mở ra một lộ trình hành nghề luật sư cho người được đào tạo luật học theo con đường sau đại học mà không đi qua bậc cử nhân luật truyền thống điều mà Luật Luật sư các năm 2006 và 2012 đều chưa đặt ra.

Nhìn ra thế giới, mô hình này không phải xa lạ: tại Hoa Kỳ, bằng J.D. (Juris Doctor) vốn là bằng chuyên nghiệp sau đại học, và toàn bộ luật sư Mỹ đều được đào tạo theo con đường này. Tức là không có khái niệm "cử nhân luật" ở bậc đại học.

Tại Anh và xứ Wales, người tốt nghiệp đại học ngành khác có thể hoàn thành khóa chuyển đổi GDL (Graduate Diploma in Law) một năm rồi tiếp tục con đường hành nghề luật sư. Còn tại Nhật Bản, sau cải cách tư pháp đầu những năm 2000, các trường luật chuyên nghiệp (Law School) được thành lập theo mô hình Mỹ, cho phép người trái ngành theo học chương trình ba năm để đủ điều kiện dự thi tư pháp quốc gia.

ThS Nguyễn Đức Hiếu

Điểm chung của các mô hình này là: điều kiện bằng cấp đầu vào được mở rộng, nhưng đi kèm với đó là một cơ chế đào tạo riêng và một kỳ thi quốc gia có tính cạnh tranh rất cao đóng vai trò bộ lọc thực chất.

Đây chính là điểm mấu chốt mà đề xuất của Việt Nam cần đặc biệt lưu tâm: tính mới của quy định sẽ chỉ thực sự có giá trị nếu kỳ thi quốc gia về luật sư được thiết kế đủ nghiêm khắc để bù đắp cho sự đa dạng hóa con đường tiếp cận nghề.

Tuy nhiên, nhìn từ góc độ bảo đảm chất lượng dịch vụ pháp lý, đề xuất này đặt ra không ít lo ngại chính đáng. Vấn đề cốt lõi không phải là người có bằng thạc sĩ hay tiến sĩ luật có kém hơn cử nhân luật hay không mà là liệu hệ thống đào tạo hiện tại của Việt Nam có thực sự trang bị cho họ nền tảng kiến thức pháp lý toàn diện tương đương hay không để phụng sự công lý đúng nghĩa hay không. Chương trình thạc sĩ luật tại Việt Nam hiện nay, kể cả khi có học bổ sung kiến thức cho người trái ngành, về căn bản vẫn được thiết kế theo định hướng chuyên ngành hẹp hoặc nghiên cứu học thuật chứ không phải nhằm tái tạo toàn bộ khối kiến thức nền của bốn năm cử nhân luật gồm lý luận nhà nước và pháp luật, luật hiến pháp, luật hành chính, luật tố tụng hình sự, luật tố tụng dân sự và hàng loạt môn luật thực định khác.

Đây là khoảng cách khó có thể lấp đầy bằng một vài học phần bổ túc. Hệ quả thực tiễn đáng lo ngại là: nếu tiêu chuẩn bằng cấp được nới lỏng mà không có chương trình đào tạo chuyên biệt đi kèm, gánh nặng kiểm soát chất lượng sẽ dồn toàn bộ lên kỳ thi quốc gia về luật sư. Đây là một cơ chế mới chưa có tiền lệ vận hành tại Việt Nam, chưa được kiểm nghiệm về độ tin cậy lẫn tính minh bạch. Trong bối cảnh đó, rủi ro không phải là không có, thị trường dịch vụ pháp lý có thể xuất hiện một thế hệ luật sư "đúng bằng cấp theo luật định" nhưng thiếu hụt kiến thức nền tảng và người chịu thiệt thòi trực tiếp cuối cùng không ai khác chính là thân chủ, nền tư pháp và cả xã hội nói chung.

Luật sư TRẦN DUY HUY, Đoàn Luật sư TP Đồng Nai:

Đề xuất phù hợp

Dưới góc độ lập pháp và thực tiễn hành nghề, tôi hoàn toàn tán thành với đề xuất bổ sung cụm từ "có bằng cử nhân luật trở lên" vào tiêu chuẩn chức danh Luật sư (Điều 10 Luật Luật sư). Tuy nhiên, cần khẳng định đây không phải là một quy định mới mang tính đột phá, mà thực chất là bước chuẩn hóa kỹ thuật lập pháp nhằm bảo đảm tính thống nhất cho hệ thống pháp luật.

Bởi vì, về khâu đào tạo: Quy chế tuyển sinh của Học viện Tư pháp hiện yêu cầu đầu vào là "có bằng cử nhân luật trở lên". Nghĩa là, dù xuất phát điểm không phải cử nhân luật, nhưng nếu cá nhân đã học và có bằng Thạc sĩ luật, họ vẫn hoàn toàn đủ điều kiện tham gia khóa đào tạo và được cấp Giấy chứng nhận tốt nghiệp đào tạo nghề luật sư.

Luật sư Trần Duy Huy

Về hồ sơ cấp chứng chỉ, Điều 17 Luật Luật sư quy định tài liệu chứng minh trình độ chuyên môn được chấp nhận bao gồm: Bản sao Bằng cử nhân luật hoặc bản sao Bằng thạc sĩ luật. Điều này có nghĩa là trên thực tế, Thạc sĩ luật vẫn có thể trở thành Luật sư mặc dù không có bằng Cử nhân luật.

Về điểm nghẽn pháp lý ở bậc trên đại học: Theo Luật Luật sư hiện hành, người có bằng Tiến sĩ luật đương nhiên được miễn đào tạo nghề và miễn tập sự hành nghề; chỉ cần nộp hồ sơ là được cấp Chứng chỉ hành nghề và trở thành Luật sư. Tuy nhiên, nếu một Tiến sĩ luật đi lên từ Thạc sĩ luật mà không có bằng Cử nhân luật, thì chiếu theo đúng câu chữ của Điều 10 (quy định tiêu chuẩn gốc chỉ là "có bằng cử nhân luật"), rõ ràng những Tiến sĩ này lại không đủ tiêu chuẩn trở thành Luật sư.

Do đó, từ thực tiễn áp dụng đến kỹ thuật lập pháp, việc bổ sung cụm từ "trở lên" vào tiêu chuẩn chung là một sự điều chỉnh hoàn toàn cần thiết để xóa bỏ những điểm mâu thuẫn trong chính nội tại của đạo luật này.

Đào tạo cử nhân luật là nền tảng bắt buộc

Nghề luật sư là một nghề hành nghề chuyên sâu, đòi hỏi người luật sư phải có nền tảng kiến thức pháp lý toàn diện và có hệ thống. Chương trình đào tạo cử nhân luật chính là giai đoạn hình thành những kiến thức nền tảng về lý luận nhà nước và pháp luật, luật hiến pháp, luật chung, luật chuyên ngành và nhiều lĩnh vực pháp luật khác. Đây là nền tảng bắt buộc để người học hiểu được cấu trúc của hệ thống pháp luật, phương pháp tư duy pháp lý và kỹ năng phân tích các quan hệ pháp luật trong thực tiễn.

Trong khi đó, chương trình đào tạo thạc sĩ hoặc tiến sĩ luật chủ yếu mang tính chuyên sâu và nghiên cứu ở một hoặc một số lĩnh vực nhất định. Mục tiêu của bậc học sau đại học không thể bù đắp toàn bộ khối lượng kiến thức nền tảng của chương trình cử nhân luật. Vì vậy, một người có bằng thạc sĩ hay tiến sĩ luật nhưng chưa từng trải qua quá trình đào tạo cử nhân luật có thể có kiến thức chuyên ngành rất tốt nhưng vẫn có nguy cơ khiếm khuyết kiến thức pháp lý cơ bản mà một luật sư cần phải có khi tham gia tư vấn, tranh tụng và bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho khách hàng.

Đặc biệt, nghề luật sư là nghề có liên quan trực tiếp đến quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức. Do đó, đầu vào cần được xây dựng dựa trên tiêu chuẩn nền tảng kiến thức pháp luật toàn diện làm tiền đề cho chất lượng nghề nghiệp của luật sư sau này, không nên dựa trên học vị nhưng có thể khiếm khuyết kiến thức pháp luật cơ bản. Nói cách khác, học vị cao hơn không đồng nghĩa với việc đã được trang bị đầy đủ nền tảng pháp lý căn bản nhất là đối với các trường hợp không được đào tạo chuyên ngành luật ở bậc đại học.

Quy định để trở thành luật sư phải có bằng cử nhân luật vẫn là yêu cầu hợp lý và cần thiết. Nếu mở rộng đối tượng có thể làm luật sư, cơ quan soạn thảo cần có cơ chế đánh giá, bổ sung kiến thức nền tương đương cử nhân luật thay vì mặc nhiên xem bằng thạc sĩ hoặc tiến sĩ luật có thể thay thế hoàn toàn vai trò của chương trình đào tạo cử nhân luật.

Luật sư TRƯƠNG VĂN TUẤN, Đoàn Luật sư TP.HCM

Đừng bỏ lỡ

Video đang xem nhiều

Đọc thêm

Đọc nhiều
Tiện ích
Tin mới