Tổng Bí thư Tô Lâm khi báo cáo về các văn kiện trình Đại hội XIV đã nhấn mạnh “Hoàn thiện thể chế phát triển và Nhà nước pháp quyền XHCN: Lấy thực thi làm thước đo” là một trong tám nội dung cốt lõi để thực hiện các quyết sách chiến lược mà Đảng đã đề ra trong kỷ nguyên mới.
Chương trình hành động của Ban Chấp hành Trung ương Đảng thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV cũng nêu rõ nhiệm vụ phải xây dựng hệ thống đo lường chất lượng thực thi pháp luật ở các bộ, ngành, địa phương dựa trên mức độ hài lòng của người dân và doanh nghiệp, để tiếp tục đẩy mạnh xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam.
Trung tướng, PGS-TS Trần Văn Độ, nguyên Phó Chánh án TAND Tối cao, Chánh án Tòa án Quân sự Trung ương, cho rằng trong Nhà nước pháp quyền, cải cách thể chế chỉ thực sự trở thành đột phá khi được triển khai đồng bộ từ xây dựng chính sách, hoàn thiện pháp luật đến tổ chức thực thi, trong đó chú trọng “kỷ luật thực thi” nhưng cũng không được xem nhẹ hoạt động lập pháp.
Trọng tâm chuyển dịch sang “kỷ luật thực thi”
. Phóng viên: Thưa Trung tướng, Đại hội XIV của Đảng đã xác định cải cách thể chế là “đột phá của đột phá” khi hoàn thiện thể chế và xây dựng Nhà nước pháp quyền. Theo ông, nội hàm của sự đột phá này có gì khác biệt so với các nhiệm kỳ trước?
+ Trung tướng, PGS-TS Trần Văn Độ: Thể chế là một hệ thống hoàn chỉnh bao gồm chính sách pháp luật, quy định pháp luật thể chế hóa chính sách đó và tổ chức thực hiện pháp luật được ban hành.
Chính sách pháp luật thể hiện đầy đủ, đúng đắn, khách quan các quan điểm của Đảng, ý chí của Nhân dân về các vấn đề trọng đại của đất nước; pháp luật thể chế hóa chính sách của Nhà nước bằng các quy phạm pháp luật để điều chỉnh các vấn đề của chính sách và tổ chức thực hiện pháp luật chính là đưa pháp luật vào cuộc sống, thực hiện chức năng điều chỉnh của nó.
Cải cách thể chế chỉ có thể trở thành điểm đột phá khi các yếu tố chính sách - pháp luật - tổ chức thực thi pháp luật được thực hiện một cách hệ thống, đồng bộ và tích cực. Đây là điểm khác nhau trong tư duy cải cách thể chế của Đại hội XIV so với trước đây, vốn chú trọng nhiều hơn đến ban hành văn bản pháp luật, mà chưa xây dựng chính sách thật tốt và chưa thật chú trọng đến việc tổ chức thực hiện pháp luật, làm cho nhiều quy định pháp luật chỉ nằm trên giấy, thiếu tính khả thi.
. Chúng ta đã dành nhiều năm để “xây dựng và hoàn thiện” hệ thống pháp luật - yếu tố then chốt trong công cuộc xây dựng Nhà nước pháp quyền. Tại Đại hội XIV, trọng tâm đã có sự chuyển dịch mạnh mẽ sang “kỷ luật thực thi”. Phải chăng vấn đề hiện nay không nằm ở chỗ thiếu luật, mà nằm ở việc đưa luật vào cuộc sống?
+ Vâng, đúng vậy. Những năm qua chúng ta rất chú trọng đến công tác xây dựng pháp luật trong công cuộc cải cách tư pháp, cải cách pháp luật, nhất là trong Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam.
Tuy nhiên, thực tế đã cho thấy rằng nhiều quy định của pháp luật không được thực thi trong cuộc sống vì nhiều nguyên nhân khác nhau mà có thể kể đến những nguyên nhân chủ yếu sau:
Thứ nhất, pháp luật chưa thể chế hoá đầy đủ, đúng đắn quan điểm, đường lối của Đảng; chính sách chưa được xây dựng hiệu quả.
Thứ hai, trong xây dựng chính sách làm cơ sở cho việc ban hành luật, các tác động của pháp luật, nhất là tác động tiêu cực chưa được đánh giá đầy đủ.
Thứ ba, kỹ thuật lập pháp còn hạn chế làm cho pháp luật được nhận thức khác nhau trong tổ chức thực hiện, thậm chí lồng lợi ích nhóm trong ban hành và thực hiện;
Thứ tư, trách nhiệm công vụ của những người có trách nhiệm trong tổ chức thực hiện pháp luật...
Vì vậy, Đại hội XIV của Đảng chuyển dịch từ ban hành pháp luật sang “kỷ luật thực thi” pháp luật là điều đúng đắn. Tuy nhiên, để hoạt động thực thi pháp luật hiệu quả, cần phải khắc phục bốn nguyên nhân nêu trên và lấy kết quả thực thi pháp luật làm tiêu chí đánh giá hiệu quả hoạt động cơ quan, tổ chức, cá nhân.
Lấy sự hài lòng của người dân làm thước đo
. Một điểm rất mới và thực tế được đề cập là lấy “thời gian và chi phí tuân thủ” của người dân, doanh nghiệp làm thước đo chất lượng cải cách thể chế. Điều này sẽ tạo ra áp lực và đặt ra yêu cầu gì đối với bộ máy công quyền trong thời gian tới, thưa Trung tướng?
+ Đây là bài toán của kinh tế học pháp luật. Chất lượng cải cách thể chế thể hiện qua kết quả điều chỉnh của pháp luật trên thực tế, thể hiện qua các lợi ích tích cực mà người dân đạt được khi pháp luật được thực thi; nói tóm lại là thể hiện qua sự hài lòng của người dân và doanh nghiệp.
Tuy nhiên, đó là một sự thử thách lớn cho các chủ thể xây dựng chính sách, ban hành và tổ chức thực hiện pháp luật. Thay cho việc đổ thừa cho chất lượng không cao, tính khả thi yếu của các văn bản pháp luật...
người tổ chức thực hiện pháp luật cần tích cực để đưa pháp luật vào cuộc sống; đồng thời phát hiện những bất cập của văn bản pháp luật để kịp thời sửa đổi, bổ sung. Quy phạm pháp luật phải thực sự “là quy tắc xử sự chung” để điều chỉnh mọi vấn đề trong cuộc sống chứ không thể là cụ thể để điều chỉnh các vấn đề riêng biệt.
Vì vậy, trong Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam, mỗi cơ quan nhà nước phải thực hiện đầy đủ chức năng (lập pháp, hành pháp - tổ chức thi hành pháp luật và tư pháp) của mình được phân công trong sự phối hợp chặt chẽ với các cơ quan khác; đồng thời phải có sự kiểm soát chặt chẽ để các hoạt động thực thi pháp luật hiệu quả. Đó là trách nhiệm của mỗi cơ quan nhà nước, mỗi cán bộ, công chức.
. Nhiều người lo ngại là khi nhấn mạnh “kỷ luật thực thi”, bộ máy có thể trở nên e dè, cứng nhắc hơn. Nhưng ngược lại, mục tiêu của chúng ta là tháo gỡ điểm nghẽn để giải phóng nguồn lực. Vậy theo Trung tướng, làm sao để vừa “siết chặt” kỷ cương, lại vừa “cởi trói” cho tinh thần dám nghĩ, dám làm?
+ Pháp luật không phải là quy phạm chết, mà là quy tắc xử sự chung cho mọi cơ quan, tổ chức, công dân. Pháp luật điều chỉnh mọi quan hệ pháp luật với tinh thần chung nhưng được thực hiện đối với từng sự kiện pháp lý cụ thể. Thực thi pháp luật chính là cụ thể hóa sự điều chỉnh pháp luật đó nhưng không thể máy móc, rập khuôn, cứng nhắc. Trong bối cảnh đó, quy định pháp luật và kỷ luật thực thi không hề mâu thuẫn mà là sự thống nhất biện chứng. Thực hiện, nhất là áp dụng pháp luật phải có tính sáng tạo thì pháp luật mới thực sự đi vào cuộc sống.
Cho nên siết chặt kỷ cương thực thi và cởi trói cho tinh thần dám nghĩ, dám làm, thực thi sáng tạo pháp luật nhưng không vượt ra ngoài pháp luật là quan điểm đúng đắn. Cơ quan công quyền, cán bộ công chức không nên e dè về chuyện đó.
. Xét đến cùng, đích đến của Nhà nước pháp quyền là sự phát triển. Trung tướng kỳ vọng sự chuyển hướng sang “kỷ luật thực thi” lần này sẽ củng cố “niềm tin thể chế” như thế nào và niềm tin đó sẽ được chuyển hóa thành nguồn lực vật chất cụ thể ra sao cho đất nước?
+ Việc chuyển hướng sang “kỷ luật thực thi” nhưng không coi nhẹ hoạt động lập pháp, là giải pháp đột phá để giải tỏa điểm nghẽn của thể chế như là “điểm nghẽn của điểm nghẽn” như Tổng Bí thư Tô Lâm đã nói. Con đường phát triển của đất nước ta sẽ trở nên thông thoáng; và chắc chắn đó là yếu tố quan trọng để đất nước Việt Nam phát triển.
. Xin cảm ơn ông.•
Hoàn thiện thể chế phát triển và Nhà nước pháp quyền XHCN
Thể chế là “điểm nghẽn của điểm nghẽn” nhưng cũng là “đột phá của đột phá”. Phải tiếp tục hoàn thiện đồng bộ thể chế phát triển, tháo gỡ rào cản, khơi thông nguồn lực, tạo động lực phát triển mới. Xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân, dưới sự lãnh đạo của Đảng. Đổi mới mạnh mẽ phương thức quản trị phát triển quốc gia theo hướng hiện đại, minh bạch, trách nhiệm giải trình cao; đẩy mạnh phân cấp, phân quyền gắn với kiểm soát quyền lực; siết chặt kỷ luật, kỷ cương hành chính; xây dựng nền công vụ chuyên nghiệp, liêm chính, phục vụ.
Kiên quyết xóa bỏ cơ chế “xin - cho”, giảm tối đa thủ tục hành chính; đẩy mạnh số hóa toàn diện, toàn trình, liên thông dữ liệu. Lấy thời gian, chi phí của người dân và doanh nghiệp làm thước đo chất lượng cải cách; bảo đảm môi trường đầu tư kinh doanh an toàn, minh bạch, cạnh tranh lành mạnh.
Song song với cải cách, phải xây dựng kỷ luật pháp quyền và kỷ luật thực thi. Kiên quyết khắc phục bằng được tình trạng: “Luật thì đúng mà làm thì khó”, “trên nghị trường thì thông, dưới cơ sở thì vướng”, “trên nóng, dưới lạnh”, “nói nhiều, làm ít”, “quyết sách đúng nhưng thực thi chậm”, gây lãng phí nguồn lực, làm giảm niềm tin của Nhân dân. Đồng thời thiết kế cơ chế kiểm soát quyền lực để quyền lực luôn trong khuôn khổ pháp luật, đạo đức, văn hóa, truyền thống dân tộc và niềm tin của Nhân dân.
(Trích Báo cáo của Ban Chấp hành Trung ương khóa XIII
về các văn kiện trình Đại hội XIV)
Tấm kính soi những điểm nghẽn thể chế
Thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, Ban Chấp hành Trung ương đã ban hành chương trình hành động cụ thể. Trong đó, đặt ra yêu cầu lấy thực thi làm thước đo cho tiến trình hoàn thiện thể chế phát triển và xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN bằng việc xây dựng hệ thống đo lường chất lượng thực thi pháp luật ở các bộ, ngành, địa phương.
Không đơn thuần là những chỉ đạo mang tính kỹ thuật hành chính, ẩn đằng sau thông điệp này là một bước chuyển quan trọng trong tư duy quản trị phát triển: Từ chú trọng ban hành quy định và tuân thủ quy trình sang đánh giá chính sách thông qua kết quả thực tế và tác động xã hội của việc thực thi.
Từ hoàn thiện khung pháp luật đến đánh giá bằng tác động
Nhìn trong tiến trình cải cách thể chế, có thể thấy tư duy quản trị ở Việt Nam đã trải qua những bước chuyển rõ nét. Giai đoạn đầu tập trung vào việc xây dựng và hoàn thiện khung pháp luật, đặt nền móng cho quản lý nhà nước bằng quy định và thẩm quyền. Tiếp đó là giai đoạn đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, chuẩn hóa quy trình và số hóa hoạt động công vụ nhằm nâng cao hiệu quả vận hành của bộ máy.
Việc Văn kiện Đại hội XIV nhấn mạnh “lấy thực thi làm thước đo” cho thấy cải cách thể chế đang bước sang một giai đoạn mới, nơi tác động của chính sách trở thành căn cứ để đánh giá và điều chỉnh cả cách thiết kế lẫn tổ chức thực hiện chính sách.
Thể chế từ lâu được xác định là “điểm nghẽn của điểm nghẽn” nhưng đồng thời cũng được kỳ vọng là “đột phá của đột phá”. Thực tế cho thấy trong nhiều năm qua, hệ thống pháp luật ngày càng được hoàn thiện, các chương trình cải cách hành chính, chuyển đổi số, cải thiện môi trường đầu tư - kinh doanh được triển khai mạnh mẽ. Tuy nhiên, kết quả đạt được trên thực tế vẫn chưa tương xứng với nỗ lực hoàn thiện thể chế.
Chính trong bối cảnh đó, việc nhấn mạnh lấy thực thi làm thước đo mang ý nghĩa đặc biệt. Thước đo này buộc quá trình quản trị phải dịch chuyển trọng tâm: Không dừng lại ở việc “đã ban hành đủ về mặt hình thức”, mà phải trả lời câu hỏi liệu chính sách đó có tạo ra thay đổi thực sự trong đời sống kinh tế - xã hội hay không.
Từ an toàn quy trình đến trách nhiệm về kết quả
Trước đây, quản lý nhà nước thường được đánh giá dựa trên các tiêu chí mang tính quy trình và thủ tục: Văn bản đã được ban hành đúng quy trình hay chưa, bộ máy đã được tổ chức đầy đủ hay chưa, thủ tục đã được chuẩn hóa hay chưa. Cách tiếp cận này đã góp phần thúc đẩy sự phát triển của hệ thống pháp luật, đặc biệt trong giai đoạn chuyển từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế thị trường định hướng XHCN.
Ở thời điểm đó, “đúng quy trình” không chỉ là yêu cầu quản lý, mà còn là công cụ bảo vệ quan trọng đối với những người tham gia xây dựng và thực thi chính sách, giúp giảm thiểu rủi ro pháp lý và bảo đảm tính hợp pháp của các quyết định quản lý.
Tuy nhiên, khi hệ thống pháp luật và bộ máy quản lý đã vận hành ổn định hơn, chính “vùng an toàn quy trình” này, nếu không được bổ sung bằng các thước đo về kết quả và tác động, có thể trở thành nguyên nhân của sự trì trệ. Khi việc tuân thủ đúng quy trình được coi là đích đến cuối cùng, câu hỏi về hiệu quả thực tế của chính sách dễ bị đẩy lùi và trách nhiệm đối với kết quả đầu ra trở nên mờ nhạt.
Trong bối cảnh đó, việc lấy tác động thực tế của chính sách làm thước đo mang ý nghĩa như một đòn bẩy quan trọng để phá vỡ sự đóng kín của tư duy quản lý thuần túy dựa trên tuân thủ. Thực thi, theo cách nhìn này, không chỉ là khâu cuối của chu trình chính sách, mà còn trở thành một cơ chế phản hồi ngược, cho phép đánh giá lại toàn bộ quá trình từ thiết kế đến tổ chức thực hiện.
Hiệu quả thực thi có thể không ngay lập tức kéo theo hệ quả pháp lý trực tiếp nhưng phản ánh rõ trách nhiệm chính trị, đồng thời trở thành căn cứ để đo lường năng lực vận hành của hệ thống. Khi được nhìn nhận đúng, kết quả thực tế của chính sách cũng có thể là cơ sở bảo vệ cho những nỗ lực đổi mới, những cách làm linh hoạt nhằm vượt qua rào cản quy trình để giải quyết hiệu quả các vấn đề của thị trường và đời sống kinh tế - xã hội trong khuôn khổ pháp luật.
Chính từ góc nhìn này, thực thi trở thành “tấm kính” soi rõ các điểm nghẽn của thể chế. Khi thời gian giải quyết kéo dài hơn mục tiêu đề ra, câu hỏi đặt ra không chỉ là thủ tục có được xây dựng theo đúng quy trình, mà là thủ tục đó có được thiết kế dựa trên nhu cầu thực tế hay không, quy định đã hợp lý chưa và việc tổ chức thực hiện có đạt yêu cầu hay không. Khi chi phí tuân thủ pháp luật vẫn cao, vấn đề không chỉ nằm ở việc văn bản đã được ban hành đúng thẩm quyền, mà còn ở mức độ rõ ràng, khả năng dự đoán của văn bản và tính nhất quán trong áp dụng.
Tương tự, khi phân cấp, phân quyền đã được đẩy mạnh nhưng hiệu quả chưa rõ nét, điểm nghẽn có thể nằm ở năng lực tổ chức thực thi và cơ chế kiểm soát quyền lực đi kèm. Theo cách tiếp cận này, “điểm nghẽn” không còn là khái niệm trừu tượng, mà được nhận diện thông qua những biểu hiện rất cụ thể của kết quả thực thi. Khi luật đã có, quy trình đã có nhưng tác động chưa đạt, câu hỏi buộc phải chuyển sang năng lực quản trị: Năng lực phân tích vấn đề, thiết kế chính sách dựa trên bằng chứng, tổ chức thực hiện gắn với trách nhiệm giải trình và đo lường, đánh giá tác động chính sách.
Tác động thực tế - thước đo của Nhà nước pháp quyền
Cách tiếp cận này giúp tránh việc cải cách rơi vào vòng lặp quen thuộc: Tiếp tục sửa luật, bổ sung thủ tục nhưng không chạm tới nguyên nhân cốt lõi của những vướng mắc trong thực thi. Khi lấy tác động thực tế làm điểm xuất phát, cải cách thể chế có cơ sở thực tiễn rõ ràng hơn, đồng thời tạo áp lực tự nhiên buộc bộ máy điều chỉnh cách làm việc.
Ở góc độ xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN, đây là một chuyển dịch có ý nghĩa đặc biệt. Nhà nước pháp quyền không chỉ được nhận diện qua số lượng và mức độ chặt chẽ của các văn bản pháp luật, mà còn qua khả năng tạo ra môi trường pháp lý an toàn, minh bạch, có thể dự đoán đối với người dân và doanh nghiệp. Phân cấp, phân quyền chỉ thực sự phát huy hiệu quả khi đi kèm với cơ chế kiểm soát và đánh giá tác động rõ ràng.
Khi văn kiện đặt ra yêu cầu đổi mới phương thức quản trị phát triển quốc gia theo hướng hiện đại, minh bạch, trách nhiệm giải trình cao, việc lấy thực thi làm thước đo chính là công cụ để hiện thực hóa yêu cầu đó. Thước đo này buộc mọi chủ thể trong bộ máy quản lý phải trả lời một câu hỏi nhất quán: Chính sách đã tạo ra tác động gì và tác động đó có phù hợp với mục tiêu đặt ra hay không.
Có thể nói việc nhấn mạnh lấy thực thi làm thước đo không chỉ phản ánh quyết tâm cải cách hành chính, mà còn cho thấy một bước chuyển quan trọng trong tư duy quản trị phát triển. Khi tác động thực tế của chính sách trở thành căn cứ đánh giá, điểm nghẽn không còn bị che khuất sau các khái niệm chung chung, mà trở thành những vấn đề cụ thể có thể nhận diện, điều chỉnh và gắn với trách nhiệm rõ ràng. Đó cũng là cách Nhà nước pháp quyền được củng cố không chỉ trên văn bản, mà trong đời sống hằng ngày của người dân và doanh nghiệp.
Và khi “đúng quy trình” không còn mang lại kết quả như mong đợi, đó là lúc cần nhìn lại để hỏi xem: Quy trình có còn đúng hay không?!
TS TRẦN THỊ QUANG HỒNG, Nghị viện bang Victoria; nguyên Trưởng ban Pháp luật Kinh tế và Dân sự, Viện Khoa học pháp lý (Bộ Tư pháp)