Bộ Tư pháp vừa ban hành hồ sơ tài liệu thẩm định dự án Luật Luật sư (sửa đổi).
Tại Bản tổng hợp ý kiến, tiếp thu, giải trình ý kiến góp ý, phản biện xã hội đối với dự án Luật Luật sư (sửa đổi), một số Đoàn Luật sư đề nghị luật hóa việc hứa thưởng, phí thành công và nhận hiện vật có giá trị thấp nhưng không trái quy định của pháp luật.
Có ý kiến thì đề nghị quy định rõ hợp đồng dịch vụ pháp lý không được hứa thưởng; nếu được phép nhận khoản tiền thưởng của khách hàng sau khi thực hiện có hiệu quả dịch vụ pháp lý thì cũng cần quy định rõ trong Luật.
Pháp Luật TP.HCM ghi nhận ý kiến của các luật sư về vấn đề này:
ThS.LS NGUYỄN THẾ PHONG, Ủy viên Ban Thường vụ, Chủ nhiệm Ủy ban khen thưởng - kỷ luật Liên đoàn Luật sư Việt Nam:
Không nên cấm các khoản chi trả mang tính chất thưởng thêm
Khung pháp lý hiện hành chưa đủ minh bạch để các luật sư và khách hàng có thể tự do đưa ra các thoả thuận phù hợp ý chí của hai bên.
Điều 55 Luật Luật sư hiện hành quy định về căn cứ tính thù lao, phương thức tính thù lao luật sư, trong đó có phần nội dung cho phép thù lao luật sư được thoả thuận theo phương thức “tỷ lệ phần trăm của giá ngạch vụ kiện, giá trị hợp đồng hoặc giá trị dự án”. Ngoài ra, điểm đ khoản 1 Điều 9 Luật Luật sư nghiêm cấm luật sư “Nhận, đòi hỏi thêm bất kỳ một khoản tiền, lợi ích nào khác từ khách hàng ngoài khoản thù lao và chi phí đã thỏa thuận với khách hàng trong hợp đồng dịch vụ pháp lý”.
ThS.LS Nguyễn Thế Phong - Ủy viên Ban Thường vụ, Chủ nhiệm Ủy ban khen thưởng - kỷ luật Liên đoàn Luật sư Việt Nam.
Với quy định trên, người suy nghĩ theo hướng linh hoạt thì hiểu rằng thù lao và các khoản thu khác mà khách hàng chi trả cho luật sư thì hoàn toàn dựa trên nguyên tắc tự do thoả thuận, không bị ràng buộc. Theo hướng này thì các khoản “thưởng”, “hứa thưởng”, “phí thành công”… đều là những khoản hợp lệ, không trái pháp luật, và nếu được hai bên ghi nhận trong hợp đồng dịch vụ pháp lý thì đều có giá trị.
Tuy nhiên, lại có quan điểm ngược lại cho rằng giữa luật sư và khách hàng chỉ được thoả thuận về “thù lao” và “chi phí”. Còn mọi khoản không được gọi là “thù lao, chi phí” thì bị cho rằng là những khoản thu không đúng quy định, vi phạm luật luật sư. Với quan điểm khắt khe này thì khi luật sư và khách hàng thoả thuận các khoản được gọi tên là “thưởng”, “hứa thưởng”, “thưởng thêm”, “cộng thêm”, “phí thành công”… thì bị xem là vi phạm luật luật sư, là thoả thuận trái pháp luật, không có giá trị pháp lý.
Thực tiễn giải quyết tranh chấp giữa luật sư với khách hàng về thỏa thuận khoản tiền “thưởng thêm” nếu vụ án thành công trong hợp đồng dịch vụ pháp lý, tòa án đã từng công nhận khoản tiền “thưởng thêm” đó là hợp pháp và buộc khách hàng phải thanh toán cho tổ chức hành nghề luật sư.
Tuy nhiên, thông tin gần đây cũng có một vụ tranh chấp giữa phía luật sư với khách hàng về tiền “hứa thưởng”, tòa án cho rằng thoả thuận “hứa thưởng” là vô hiệu vì không phù hợp Luật Luật sư và đạo đức nghề nghiệp luật sư.
Đối với Liên đoàn luật sư Việt Nam, trước đây cũng có trường hợp trả lời cho một toà án, liên quan đến tranh chấp về thoả thuận tiền thưởng trong hợp đồng dịch vụ pháp lý. Trong sự việc này, Liên đoàn luật sư Việt Nam đã nêu quan điểm là khoản thoả thuận có tên “tiền thưởng” trong hợp đồng dịch vụ pháp lý tuy không chuẩn xác về ngôn ngữ, nhưng xét bản chất thì đây là thoả thuận “thù lao theo kết quả công việc” nên thoả thuận này chính đáng, không vi phạm Luật Luật sư, đạo đức nghề nghiệp luật sư.
Tại các Đoàn luật sư, cách đánh giá về các khoản về tiền thưởng, hứa thưởng thoả thuận, ghi nhận trong hợp đồng dịch vụ pháp lý cũng có những khác biệt. Có nơi thì cho rằng vi phạm, có nơi thì lại cho rằng đã thoả thuận và ghi rõ vào hợp đồng dịch vụ pháp lý thì không xem là vi phạm.
Về phía khách hàng, trong rất nhiều trường hợp khi nhờ luật sư thì thường gợi ý thoả thuận theo phương án là có thù lao cứng (một mức cố định) và thù lao mềm (căn cứ theo kết quả công việc, theo lợi ích mà khách hàng thụ hưởng được qua vụ việc luật sư tham gia).
Cách thức khách hàng nêu ra cũng rất đa dạng. Có trường hợp phần “thù lao mềm” được khách hàng đề xuất tính theo tỷ lệ phần trăm giá trị lợi ích mà khách hàng thụ hưởng trong vụ việc. Nhưng cũng có khách hàng không đề nghị tính toán thù lao theo tỷ lệ phần trăm, mà đưa ra từng thang bậc giá trị lợi ích mà khách hàng thụ hưởng trong vụ việc tranh chấp hoặc vụ việc khác. Ví dụ, khách hàng hưởng lợi ích trị giá trên 2 tỷ đồng thì luật sư được hưởng 200 triệu đồng; trên 5 tỷ đồng thì luật sư được 300 triệu đồng; trên 10 tỷ đồng thì luật sư được 500 triệu đồng.
Tôi cho rằng nhu cầu này là thực tế và những khoản mà khách hàng có nhu cầu thoả thuận với luật sư như “thưởng”, “hứa thưởng”, “thưởng thêm”, “cộng thêm”, “phí thành công”, “thù lao theo kết quả công việc”… là hoàn toàn chính đáng và trên tinh thần chia sẻ khó khăn, rủi ro và cùng phân chia, hưởng dụng lợi ích khi công việc dịch vụ mang lại kết quả tốt đẹp cho khách hàng. Nhu cầu này hoàn toàn là mong muốn của rất nhiều cá nhân, tổ chức trong xã hội, không xâm hại lợi ích của bất kỳ ai và là sự thoả thuận để đền đáp một cách công bằng và xứng đáng đối với công sức mà luật sư đã làm cho khách hàng.
Những khoản thu nhập này khi được công khai, minh bạch, kê khai đóng thuế đầy đủ cho nhà nước thì bên cạnh lợi ích riêng của cá nhân luật sư, còn mang lại lợi ích chung cho nhà nước và xã hội. Do vậy, không có bất cứ lý do gì để phải đặt ra các quy định cấm đoán, cản trở quyền tự do thoả thuận về thù lao, chi phí và các khoản chi trả mang tính chất thưởng thêm cho luật sư.
Do vậy, Luật Luật sư (sửa đổi) nên quy định về “Thù lao”, “Chi phí” (trừ thù lao luật sư khi tham gia bào chữa trong vụ án hình sự) thì cần quy định theo hướng tự do thoả thuận, không đặt ra bất kỳ ràng buộc, giới hạn nào. Tất cả những khoản giá trị lợi ích vật chất mà khách hàng thoả thuận chi trả, thanh toán cho phía luật sư dưới bất kỳ hình thức nào, gọi tên là gì (tiền thưởng, hứa thưởng, phí thành công, thù lao theo kết quả công việc...) đều được xem là thoả thuận hợp pháp, có giá trị pháp lý.
Đối với thù lao, Luật Luật sư chỉ nên quy định việc cấm luật sư lợi dụng dịch vụ pháp lý để tiếp tay với hành vi tham nhũng, tiêu cực, rửa tiền thông qua công cụ thù lao dịch vụ pháp lý.
Luật sư NGUYỄN THỊ MINH HUYỀN, Ủy viên Hội đồng Khen thưởng, kỷ luật, Đoàn Luật sư TP.HCM:
Bỏ cấm hành vi “nhận”, chỉ cấm luật sư “đòi hỏi” là phù hợp
Theo quy định của Pháp luật Dân sự, hứa thưởng là việc một chủ thể cam kết trả tiền hoặc lợi ích cho người thực hiện được một công việc nhất định. Xét riêng dưới góc độ dân sự, đây là một giao dịch hợp pháp nếu không vi phạm điều cấm của luật hoặc trái đạo đức xã hội.
Trong khi đó, Luật Luật sư không quy định “hứa thưởng” hay “phí thành công”. Tuy nhiên, Điều 55 lại cho phép thù lao được xác định theo nhiều phương thức, trong đó có phương thức tính theo tỷ lệ phần trăm theo giá ngạch vụ việc. Điều này cho thấy pháp luật không phủ nhận việc thù lao của luật sư có thể gắn với kết quả vụ việc.
Ngược lại, Điều 9 Luật Luật sư lại cấm luật sư “nhận, đòi hỏi” bất kỳ khoản tiền hoặc lợi ích nào khác ngoài thù lao và chi phí đã thỏa thuận. Quy định này thực tế đã làm nảy sinh nhiều quan điểm, cách hiểu khác nhau. Nhiều trường hợp hiểu một cách nghiêm ngặt, mọi khoản tiền phát sinh ngoài thù lao theo hợp đồng, dù được gọi là “thưởng”, đều có thể bị xem là khoản lợi ích bị cấm hay nói cách khác là cấm “hứa thưởng”.
Thực tiễn xét xử gần đây dường như đang tiếp cận theo hướng này. Quyết định giám đốc thẩm số 271/2024/DS-GĐT đã tuyên vô hiệu thỏa thuận hứa thưởng giữa luật sư và khách hàng với nhận định giao dịch vi phạm điều cấm của pháp luật. Mặc dù chưa trở thành án lệ, quyết định này phản ánh quan điểm rằng luật sư chỉ được nhận những khoản đã được xác định là thù lao hoặc chi phí hợp pháp trong khuôn khổ hợp đồng dịch vụ pháp lý.
Thực tế, nghề Luật sư cũng là cung cấp dịch vụ pháp lý cho khách hàng, trừ một số trường hợp thực hiện trách nhiệm nghề nghiệp. Do đó, cần áp dụng theo tinh thần của pháp luật dân sự, cho phép “hứa thưởng” nhưng quy định rõ ràng, chặt chẽ hơn để đảm bảo quy định này không bị lạm dụng.
Nội dung dự thảo Luật luật sư hiện nay đã có cách tiếp cận đúng đắn, phù hợp với nguyên tắc tự do thỏa thuận khi bỏ cấm hành vi “nhận” mà chỉ cấm luật sư “đòi hỏi” thêm bất kỳ khoản tiền hay lợi ích nào khác ngoài thù lao và chi phí đã thỏa thuận trong hợp đồng dịch vụ pháp lý hoặc khi thực hiện dịch vụ pháp lý miễn phí.
Tuy nhiên, tôi cho rằng dự thảo luật cần minh định rõ ràng hơn nữa theo hướng: “Luật sư không được đòi hỏi bất kỳ khoản tiền hoặc lợi ích nào ngoài thù lao, chi phí đã thỏa thuận. Việc khách hàng tự nguyện thưởng hoặc tặng cho luật sư sau khi kết thúc dịch vụ pháp lý được thực hiện theo quy định của pháp luật Dân sự và không được làm phát sinh xung đột lợi ích hoặc ảnh hưởng đến tính độc lập, khách quan của luật sư.
Luật sư NGUYỄN VĂN ĐỨC, Ủy viên Ban Chủ nhiệm, Trưởng Ban Đào tạo, Bồi dưỡng Đoàn Luật sư TP.HCM:
Biến tướng “hứa thưởng” thành “phí, thù lao thành công"
Thời gian qua, vấn đề liên quan đến thù lao luật sư có cách hiểu khác nhau dẫn đến vi phạm, đó là thù lao có giá ngạch và “hứa thưởng”.
Trong các lớp bồi dưỡng về Bộ Quy tắc đạo đức và ứng xử nghề nghiệp luật sư mà Đoàn Luật sư TP.HCM tổ chức, các báo cáo viên đều xác định hợp đồng dịch vụ pháp lý không được thỏa thuận về “hứa thưởng”. Nếu hợp đồng dịch vụ có điều khoản “hứa thưởng” là vi phạm điều 9 Luật Luật sư hiện hành.
Thực tế, Đoàn Luật sư TP.HCM từng xử lý kỷ luật luật sư ký hợp đồng dịch vụ pháp lý có điều khoản “hứa thưởng”, thậm chí nhận trước tiền “hứa thưởng”. Do vậy, đã có trường hợp biến tướng điều khoản “hứa thưởng” thành “phí, thù lao thành công”.
Có ý kiến cho rằng Điều 9 Luật Luật sư không có câu chữ nào cấm “hứa thưởng” nên việc áp dụng điều 9 Luật Luật sư để xử lý luật sư là không đúng và việc “hứa thưởng” là không trái luật. Từ lập luận đó, có một số luật sư, tổ chức hành nghề luật sư vẫn sử dụng điều khoản “hứa thưởng” trong hợp đồng dịch vụ pháp lý.
Vì vậy, để thống nhất trong cách hiểu và áp dụng, lần này trong dự thảo Luật, tôi đề nghị nêu rõ "cấm luật sư thỏa thuận hứa thưởng với khách hàng”. Quy định này, có thể đưa vào điều luật các hành vi bị nghiêm cấm hoặc đưa vào nhóm điều luật về thù lao, phí của luật sư.
Tiêu điểm:
Quan điểm của Bộ Tư pháp
Tiếp thu giải trình ý kiến của các Đoàn Luật sư tại dự thảo Luật, Bộ Tư pháp cho rằng về việc nhận thù lao theo thành công của vụ việc tại Điều 18 dự thảo Luật Luật sư (sửa đổi) đã thể hiện thù lao được tính bằng một hoặc nhiều phương thức, trong đó có ghi nhận phương thức tỷ lệ phần trăm theo giá ngạch. Như vậy, trong hợp đồng dịch vụ pháp lý có thể ghi nhận mức thù lao cố định và mức thù lao theo tỷ lệ giá trị mà luật sư mang về được cho khách hàng.
Cạnh đó, tại Điều 6 của dự thảo Luật đã sửa đổi theo hướng, bỏ việc “nhận” và chỉ cấm luật sư "đòi hỏi thêm" bất kỳ khoản tiền hay lợi ích nào khác ngoài thù lao và chi phí đã thỏa thuận trong hợp đồng dịch vụ pháp lý hoặc khi thực hiện dịch vụ pháp lý miễn phí.
Vì sao thù lao vụ án hình sự có mức trần?
Đối với thù lao luật sư khi tham gia vụ án hình sự với vai trò là “người bào chữa” thì pháp luật có quy định mức trần. Mức tối đa không vượt quá 0,3 lần mức lương cơ sở cho 1 giờ làm việc. Trường hợp vụ án do cơ quan tiến hành tố tụng yêu cầu (luật sư chỉ định) thì mức thù lao được tính 0,4 lần mức lương cơ sở cho 1 ngày làm việc.
Việc quy định mức trần này là cần thiết vì tính nhân văn và đạo đức nghề nghiệp của luật sư. Về mặt thực tế và tâm lý, một người đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự (bị can, bị cáo) thường ở thế yếu thế. Họ đang trong tâm thế đối diện với những nguy cơ về mặt pháp lý và chịu áp lực lớn về mặt tinh thần cũng như nguy cơ mất tự do. Vì vậy, luật sư khi tham gia bào chữa trong những trường hợp này phải thể hiện được tính nhân văn nghề nghiệp.
Việc giới hạn mức trần thù lao buộc luật sư phải nhận một mức thù lao tương xứng, không được lợi dụng hoàn cảnh khó khăn, túng quẫn của khách hàng để áp đặt, đòi hỏi mức thù lao quá cao, không phù hợp.
Cạnh đó, khi thực hiện trợ giúp pháp lý cho cho các đối tượng thuộc diện trợ giúp pháp lý việc quy định mức trần tránh trường hợp luật sư đòi hỏi mức phí vô lý, vì lợi ích vật chất mà đánh mất uy tín, danh dự và sứ mệnh cao cả của nghề luật sư.
Luật sư Bùi Trần Nhật Vi, Đoàn Luật sư TP.HCM