Quyền, nghĩa vụ của quốc gia với biển đảo

(PL)- Công ước của Liên Hiệp Quốc về Luật Biển ngày 10-12-1982 có hiệu lực từ ngày 16-11-1994 gồm 19 phần, 320 điều, kèm theo chín phụ lục và bốn nghị quyết, là một trong các văn kiện pháp lý đa phương quan trọng nhất lịch sử của loài người trong thời đại hiện nay.

Nó được coi như bản hiến pháp trên biển, một văn bản pháp luật quốc tế quan trọng nhất chỉ sau Hiến chương Liên Hiệp Quốc ngày 26-6-1945. Đây là một bước phát triển tiến bộ trên con đường xây dựng một trật tự pháp lý quốc tế toàn diện đối với biển, đảo trên phạm vi toàn thế giới. Nó có giá trị đối với tất cả các nước thành viên có biển cũng như không có biển, các nước phát triển cũng như các nước đang phát triển.

Công ước Biển đã vạch ra quyền và nghĩa vụ của tất cả các nước dù có chế độ chính trị-xã hội khác nhau, trong đó có Việt Nam là thành viên tham gia từ đầu trong quá trình soạn thảo xây dựng công ước. Việt Nam là một trong 119 quốc gia đầu tiên ký công ước.

Quốc hội Việt Nam đã phê chuẩn công ước ngày 23-6-1994. Đến nay, hầu hết các nước xung quanh biển Đông, trong khu vực ASEAN đều đã tuần tự phê chuẩn công ước này: Philippines ngày 8-5-1984, Indonesia ngày 3-2-1986, Singapore ngày 17-11-1994, Trung Quốc ngày 7-6-1996, Malaysia ngày 14-10-1996, Brunei ngày 5-11-1996...

Là một quốc gia thành viên của Liên Hiệp Quốc, đồng thời cũng là thành viên của Công ước quốc tế về Luật Biển 1982, Việt Nam cũng như các nước khác đều có quyền, nghĩa vụ đối với biển, đảo. Cụ thể là có các quyền sau đây:

- Có chủ quyền tuyệt đối và riêng biệt đối với nội thủy, đất liền và các hải đảo của mình; chủ quyền hoàn toàn và đầy đủ đối với lãnh hải (đối với phạm vi không quá 12 hải lý tính từ đường cơ sở ven bờ biển, ven bờ đảo).

- Có quyền chủ quyền và quyền tài phán ở vùng tiếp giáp, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của mình (rộng 200 hải lý, tối đa 350 hải lý tính từ đường cơ sở).

- Ở vùng biển quốc tế, các nước đều được hưởng các quyền tự do hàng hải, hàng không; tự do đặt đường dây cáp và ống dẫn ngầm; tự do đánh cá; dưới đáy biển, đáy đại dương, thông qua Cơ quan quyền lực quốc tế, các nước đều có quyền tham gia và hưởng các nguồn thu được từ các hoạt động khai thác tài nguyên khoáng sản ở đó.

Đồng thời, Việt Nam và các nước cũng có các nghĩa vụ sau đây:

- Tôn trọng chủ quyền và sự toàn vẹn lãnh thổ của các quốc gia khác bao gồm cả đất liền, các hải đảo, vùng biển, vùng trời.

- Tôn trọng quyền của tàu thuyền nước ngoài “qua lại vô hại” trong lãnh hải của mình.

- Tôn trọng quyền tự do hàng hải và tự do bay (hàng không) phía trên vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa.

- Hợp tác trong việc bảo tồn và quản lý các đàn cá di cư.

- Hợp tác bảo vệ môi trường biển và khuyến khích các cuộc nghiên cứu khoa học biển...

- Đóng góp tài chính để duy trì hoạt động của các cơ quan đã được lập ra từ Công ước 1982 như: Cơ quan quyền lực quốc tế đáy đại dương, Tòa án quốc tế về Luật Biển...

Đó là những quyền quốc tế cơ bản mà quốc gia thành viên nào cũng được hưởng và những nghĩa vụ quốc tế mà các quốc gia thành viên đều phải làm tròn.

LS.TS. PHAN ĐĂNG THANH

Đừng bỏ lỡ

Video đang xem nhiều

Đọc thêm