Số hóa di sản - Bài 1: Say sưa ngắm di sản tại nhà

Số hóa di sản - Bài 1: Say sưa ngắm di sản tại nhà

(PLO)- Việc số hóa các di sản đang mở ra cách tiếp cận mới, thuận tiện và tiết kiệm cho người tham quan, đặc biệt là giới trẻ.

LTS: Nghị quyết 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa trong giai đoạn mới đã được Bộ Chính trị, Ban Bí thư đã tổ chức Hội nghị toàn quốc để quán triệt và triển khai thực hiện vào ngày 25-2. Nghị quyết 80 nhấn mạnh yêu cầu đẩy mạnh ứng dụng khoa học công nghệ, chuyển đổi số trong lĩnh vực văn hóa. Chuyển đổi số đang mở ra một cách tiếp cận mới với di sản văn hóa - nơi ký ức, bản sắc và giá trị lịch sử được bảo tồn, lan tỏa bằng công nghệ.

Tuyến bài “Số hóa di sản” phản ánh sinh động hành trình ấy: Từ trải nghiệm “ngắm di sản tại nhà” của người trẻ, sự chuyển mình của các bảo tàng, di tích trong việc ứng dụng công nghệ đến những giải pháp, yêu cầu chính sách để hướng tới mục tiêu số hóa 100% di sản.

***

“Phấn đấu hoàn thành việc số hóa 100% các di sản văn hóa đã được xếp hạng cấp quốc gia, cấp quốc gia đặc biệt vào năm 2026” - đó là một trong những mục tiêu của Nghị quyết 80 vừa được Bộ Chính trị ban hành.

Chuyến tham quan “một chạm”

Thay vì mua vé máy bay, đặt phòng khách sạn hay chen chúc trong dòng khách du lịch, nhiều bạn trẻ nay chỉ cần một chiếc điện thoại thông minh hoặc máy tính là đã có thể “đặt chân” đến các di tích lịch sử, danh lam thắng cảnh nổi tiếng.

P13_di san_h1.png
Văn Miếu - Quốc Tử Giám trên môi trường số. (Ảnh chụp màn hình)

Nguyễn Minh Tâm (sinh viên Trường ĐH KHXH&NV (ĐH Quốc gia Hà Nội) cho biết em vừa “tham quan” Văn Miếu - Quốc Tử Giám thông qua nền tảng thực tế ảo.

“Em thấy rất thú vị khi có thể quan sát từng chi tiết kiến trúc, thậm chí nghe thuyết minh từng khu vực mà không cần đến tận nơi.

Không khí không giống hoàn toàn nhưng cảm giác được học và chiêm ngưỡng vẫn rất rõ ràng”.

“Giới trẻ rất thích!”

Từ những giá trị của di tích, chúng tôi xác định cần có các sản phẩm ứng dụng công nghệ để khách tham quan dễ tiếp cận hơn. Trung tâm bắt đầu thực hiện nhiệm vụ số hóa hiện vật và dữ liệu về giá trị phi vật thể của di tích.

Công chúng tham quan, đặc biệt là giới trẻ, rất thích thú với các sản phẩm ứng dụng công nghệ tại di tích. Họ có thể tương tác, nghe thuyết minh, tự khám phá không gian mà không cần hướng dẫn viên. Đây là hướng đi giúp Văn Miếu trở nên gần gũi hơn với người trẻ, đồng thời tạo động lực để chúng tôi tiếp tục mở rộng các hoạt động số hóa trong thời gian tới.

Ông LÊ XUÂN KIÊU, Giám đốc Trung tâm Hoạt động văn hóa khoa học Văn Miếu - Quốc Tử Giám

Tương tự, Trần Đức Thiện (sinh viên ĐH Văn hóa Hà Nội) nói rằng trước đây để đến Huế hay Hội An phải cân nhắc chi phí và thời gian. “Giờ em có thể khám phá Đại nội Huế ngay trên máy tính, cảm giác như mình đang đứng trong hoàng cung. Em đặc biệt thích phần hướng dẫn tương tác bằng âm thanh và mô hình 3D”.

Việc trải nghiệm di sản trên môi trường ảo giúp người trẻ không cần di chuyển xa, giảm đáng kể chi phí ăn ở, vé tham quan, phương tiện đi lại. Bên cạnh đó, nhiều nền tảng tích hợp thuyết minh đa ngôn ngữ, video tư liệu, hình ảnh tái hiện giúp người xem dễ tiếp cận và hiểu rõ hơn về di sản.

Nhiều bạn trẻ cho rằng việc số hóa không thể thay thế hoàn toàn trải nghiệm thực tế nhưng là lựa chọn phù hợp trong nhiều hoàn cảnh.

Từng đi du lịch tại Việt Nam, anh Kieth, đến từ Anh, chia sẻ rằng các bảo tàng, khu di tích là những địa chỉ anh ưu tiên tìm đến khi đặt chân đến Hà Nội.

Tuy nhiên, do thời gian có hạn nên anh cảm thấy rất may mắn được một người bạn Việt Nam chỉ cho cách xem các di sản qua điện thoại. “Những di tích của các bạn thật phong phú. Điều tôi thích thú nhất là tôi có thể ngồi một chỗ mà vẫn được chiêm ngưỡng, trải nghiệm các di sản của nước bạn. Thật tuyệt vời!” - anh nói.

Từ xu hướng đến công cụ bảo tồn

Không chỉ là trào lưu, việc số hóa di sản đang dần trở thành một hướng đi chiến lược trong công tác bảo tồn và quảng bá văn hóa Việt Nam ra thế giới.

Theo các chuyên gia, công nghệ thực tế ảo (VR), thực tế tăng cường (AR), ảnh 360 độ hay mô hình 3D đang giúp khắc phục những hạn chế mà cách tham quan truyền thống khó đáp ứng. Với chỉ một đường dẫn trực tuyến, người dùng ở bất cứ đâu cũng có thể “ghé thăm” các địa chỉ văn hóa nổi tiếng như Hoàng thành Thăng Long, cố đô Huế, phố cổ Hội An hay vịnh Hạ Long.

Nhiều dự án số hóa di sản đã được triển khai trong những năm gần đây, tiêu biểu như “Tour tham quan ảo 360 khu di tích lịch sử nhà và hầm D67” hay dự án “Số hóa di tích cố đô Huế”.

P13_di san_h2.JPG
Trong tham quan thực tế ảo, người xem có thể phóng to, soi chi tiết của từng hiện vật, lưu trữ lại hiện vật và thông tin. Ảnh: VIẾT THỊNH

Một số địa phương như Quảng Nam, Ninh Bình, Hà Nội, Thừa Thiên-Huế đã đưa dữ liệu di sản lên nền tảng trực tuyến, tạo điều kiện để người dân trong và ngoài nước dễ dàng tiếp cận.

Các nhà nghiên cứu cho rằng số hóa không chỉ là công cụ trưng bày hay quảng bá mà còn là một phương thức bảo tồn hiệu quả, giúp lưu giữ tư liệu khi hiện vật gốc có nguy cơ xuống cấp hoặc mất mát. Mỗi mô hình 3D, mỗi bản quét kỹ thuật số đều là một “bản sao” quý giá của di sản thật.

Việc ứng dụng công nghệ còn góp phần quảng bá hình ảnh Việt Nam ra quốc tế. Thông qua các nền tảng song ngữ, nhiều di tích đã tiếp cận hàng triệu lượt người xem ở nước ngoài. Một số bảo tàng còn thử nghiệm tổ chức triển lãm trực tuyến, cho phép người xem “dạo quanh” các phòng trưng bày bằng điện thoại. Đây là xu hướng mà nhiều quốc gia đã áp dụng sau đại dịch COVID-19 và Việt Nam đang theo kịp khá nhanh.

Tuy nhiên, giới chuyên môn cho rằng việc số hóa di sản không nên dừng ở mức ngắm nhìn, mà cần được đầu tư bài bản để đảm bảo tính khoa học, độ chính xác và giá trị lâu dài. Vấn đề bản quyền dữ liệu cũng cần được quan tâm, tránh việc sao chép hoặc sử dụng sai mục đích.

Dù vẫn còn nhiều thách thức nhưng rõ ràng số hóa di sản đang mở ra con đường mới, nơi giá trị truyền thống được bảo tồn bằng công nghệ hiện đại. Với người trẻ, đây không chỉ là cách “ngắm di sản tại nhà” mà còn là cơ hội kết nối với cội nguồn dân tộc bằng những trải nghiệm gần gũi, sinh động và giàu cảm xúc.

Chuyển đổi số về văn hóa là một trong ba lĩnh vực đột phá

Sáng 25-2, Bộ Chính trị, Ban Bí thư đã tổ chức Hội nghị toàn quốc để quán triệt và triển khai thực hiện hai nghị quyết có ý nghĩa đặc biệt quan trọng: Nghị quyết 79 về phát triển kinh tế nhà nước và Nghị quyết 80 về phát triển văn hóa Việt Nam.

Trình bày chuyên đề nội dung trọng tâm, cốt lõi của Nghị quyết 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương Trịnh Văn Quyết nhấn mạnh Nghị quyết 80 “Về phát triển văn hóa Việt Nam” chứa đựng nhiều nội dung, bao trùm toàn diện với phương thức và tư duy mới, mang tính đột phá.

P13_di san_BOX_h3.JPG
Việc số hóa di sản giúp người xem tiếp cận di sản một cách trực quan, đa chiều
và nhiều thông tin. Ảnh: VIẾT THỊNH

Cùng với chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa trở thành một trong bốn trụ cột của sự phát triển.

Nghị quyết 80 xác định rõ đặc điểm nổi bật của quan điểm, đường lối phát triển văn hóa là “phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, tạo dựng không gian mới, xung lực mới cho phát triển văn hóa”.

Từ đó, nghị quyết khẳng định “ứng dụng khoa học công nghệ, chuyển đổi số trong lĩnh vực văn hóa là một trong ba lĩnh vực đột phá”.

Để thực hiện nhiệm vụ này, nghị quyết yêu cầu xây dựng cơ chế, chính sách đột phá “phát triển” các nội dung trên trong lĩnh vực văn hóa; ban hành bộ quy tắc ứng xử trên không gian số, làm trong sạch môi trường văn hóa số; xây dựng hệ sinh thái văn hóa số.

Đọc thêm