Sau hơn hai thập niên phát triển, mạng lưới đường bộ cao tốc Việt Nam đã có bước chuyển mình mạnh mẽ. Nếu như giai đoạn 2001-2010 cả nước chỉ đưa vào khai thác khoảng 89 km cao tốc thì đến hết năm 2025, tổng chiều dài đã tăng lên hơn 3.300 km.
Theo ông Nguyễn Thế Minh, Phó Cục trưởng Cục Kinh tế - Quản lý đầu tư xây dựng (Bộ Xây dựng), kết quả này tạo nền tảng quan trọng để cả nước tự tin hướng đến mục tiêu hoàn thành khoảng 5.000 km đường bộ cao tốc vào năm 2030.
Từ mục tiêu tưởng như không thể
Đại hội XIII của Đảng xác định phát triển hạ tầng giao thông là một trong ba đột phá chiến lược, đồng thời đặt mục tiêu đến năm 2030 cả nước có khoảng 5.000 km đường bộ cao tốc, trong đó hoàn thành tuyến cao tốc Bắc - Nam phía Đông vào năm 2025.
Để hiện thực hóa mục tiêu này, Chính phủ xây dựng lộ trình đến năm 2025 phải có khoảng 3.000 km cao tốc. Điều đó đồng nghĩa chỉ trong vòng 5 năm, ngành giao thông phải hoàn thành thêm hơn 1.000 km cao tốc - khối lượng công việc lớn hơn nhiều so với những gì đã thực hiện trong hàng chục năm trước.
Theo lãnh đạo Bộ Xây dựng, đây là thách thức chưa từng có, đòi hỏi phải thay đổi tư duy, cách làm và áp dụng hàng loạt giải pháp đặc biệt từ khâu chuẩn bị đầu tư đến tổ chức thi công.
Bộ Xây dựng đã hoàn thành các quy hoạch chuyên ngành, phối hợp với các bộ, ngành và địa phương tham mưu bố trí nguồn vốn, trình cấp có thẩm quyền phê duyệt chủ trương đầu tư nhiều dự án cao tốc quan trọng quốc gia.
Cùng với đó, hàng loạt điểm nghẽn về thể chế cũng được tháo gỡ. Chính phủ và Quốc hội ban hành nhiều cơ chế đặc thù như tăng tỉ lệ vốn nhà nước trong các dự án PPP, phân cấp mạnh cho địa phương, áp dụng chỉ định thầu đối với một số gói thầu, đơn giản hóa thủ tục cấp phép khai thác vật liệu xây dựng và bổ sung vốn đầu tư công.
Đáng chú ý, Chính phủ cho phép triển khai đồng thời nhiều thủ tục nhằm rút ngắn thời gian chuẩn bị đầu tư. Chỉ khoảng 6 tháng sau khi chủ trương đầu tư được phê duyệt, báo cáo nghiên cứu khả thi của 30 dự án và dự án thành phần, với tổng chiều dài khoảng 1.324 km, đã hoàn thành.
Các chủ đầu tư cũng thực hiện song song nhiều công việc như khảo sát, thiết kế kỹ thuật, thẩm tra, lập dự toán và lựa chọn nhà thầu, tạo điều kiện để hàng loạt dự án trọng điểm đồng loạt khởi công trong năm 2023.
Huy động cả hệ thống chính trị
Theo Bộ Xây dựng, một trong những yếu tố quyết định thành công là sự vào cuộc đồng bộ của cả hệ thống chính trị.
Thủ tướng thành lập Ban Chỉ đạo Nhà nước các công trình, dự án quan trọng quốc gia, trọng điểm ngành giao thông vận tải, thường xuyên kiểm tra hiện trường, trực tiếp chỉ đạo tháo gỡ khó khăn về mặt bằng, vật liệu và tiến độ.
Ở địa phương, công tác giải phóng mặt bằng được xem là nhiệm vụ trọng tâm. Nhiều tỉnh, thành huy động cả hệ thống chính trị tham gia vận động người dân, xây dựng khu tái định cư và bàn giao mặt bằng. Tại thời điểm khởi công, phần lớn các dự án đã có trên 70% diện tích mặt bằng sạch.
Một điểm nhấn khác là việc chủ động xử lý bài toán thiếu vật liệu xây dựng, đặc biệt tại Đồng bằng sông Cửu Long. Bộ Xây dựng cùng các địa phương rà soát nguồn cung, tháo gỡ thủ tục khai thác mỏ, đồng thời nghiên cứu, thí điểm sử dụng cát biển làm vật liệu đắp nền đường để bổ sung nguồn vật liệu.
Ngay sau khi khởi công, các nhà thầu huy động tối đa nhân lực, máy móc, tổ chức thi công cuốn chiếu, tập trung vào các hạng mục trọng điểm.
Tinh thần thi công "3 ca, 4 kíp", "vượt nắng, thắng mưa", làm việc xuyên lễ, xuyên Tết đã trở thành hình ảnh quen thuộc trên nhiều đại công trường cao tốc.
Nhờ đó, đến ngày 19-12-2025, toàn bộ các dự án dự kiến hoàn thành trong năm đã được đưa vào khai thác hoặc thông tuyến chính, nâng tổng chiều dài đường bộ cao tốc lên 3.345 km, cùng khoảng 458 km đường dẫn và nút giao.
Đến ngày 19-5-2026, toàn bộ các dự án thành phần thuộc tuyến cao tốc Bắc - Nam phía Đông và tuyến Biên Hòa - Vũng Tàu tiếp tục hoàn thành, đánh dấu thêm một cột mốc quan trọng trong phát triển hạ tầng giao thông quốc gia.
Theo Bộ Xây dựng, tất cả các dự án đều được kiểm tra nghiêm ngặt về chất lượng, an toàn lao động và bảo vệ môi trường. Hội đồng Kiểm tra Nhà nước về công tác nghiệm thu công trình xây dựng cùng các đơn vị kiểm định độc lập thường xuyên giám sát, bảo đảm các công trình đưa vào khai thác đáp ứng yêu cầu kỹ thuật.
Những bài học để chinh phục mốc 5.000 km
Dù đạt nhiều kết quả tích cực, ông Nguyễn Thế Minh cho biết quá trình triển khai vẫn bộc lộ không ít khó khăn.
Giải phóng mặt bằng vẫn là điểm nghẽn lớn nhất khi nhiều dự án gặp vướng mắc trong xác định nguồn gốc đất, giá bồi thường và bố trí tái định cư.
Bên cạnh đó, việc giao mỏ vật liệu trực tiếp cho nhà thầu lần đầu được áp dụng nên còn nhiều lúng túng. Đồng bằng sông Cửu Long cũng từng thiếu nghiêm trọng nguồn vật liệu đắp nền, khiến một số dự án chậm tiến độ.
Một số hệ thống như giao thông thông minh (ITS), trạm thu phí không dừng và kiểm soát tải trọng xe cũng triển khai chậm hơn kế hoạch.
Từ thực tiễn đó, ông Nguyễn Thế Minh cho biết ngành rút ra nhiều bài học quan trọng cho giai đoạn tiếp theo.
Trước hết là tiếp tục hoàn thiện thể chế, kịp thời tháo gỡ các điểm nghẽn về cơ chế, chính sách, đồng thời đẩy mạnh phân cấp, phân quyền và nâng cao trách nhiệm của địa phương.
Bên cạnh đó, nguồn lực phải được tập trung cho các dự án trọng điểm, có sức lan tỏa lớn, tránh đầu tư dàn trải.
Một bài học khác là phát huy sức mạnh của cả hệ thống chính trị, nâng cao trách nhiệm của từng cơ quan, đơn vị; phân công rõ người, rõ việc, rõ thời hạn và rõ kết quả.
Ngoài ra, cần tăng cường ứng dụng khoa học - công nghệ, đổi mới phương pháp thi công nhằm rút ngắn tiến độ, tiết kiệm chi phí và nâng cao chất lượng công trình.
Tăng tốc hướng đến 5.000 km cao tốc
Trên nền tảng đã đạt được, Bộ Xây dựng cho biết đang triển khai hàng loạt dự án để hoàn thành mục tiêu khoảng 5.000 km cao tốc vào năm 2030.
Hiện nhiều tuyến đã khởi công như Hữu Nghị - Chi Lăng, Gia Nghĩa - Chơn Thành, Mỹ An - Cao Lãnh, Hòa Bình - Mộc Châu, Chợ Mới - Bắc Kạn, Ninh Bình - Hải Phòng, Đồng Đăng - Trà Lĩnh, Khánh Hòa - Buôn Ma Thuột, TP.HCM - Chơn Thành, Châu Đốc - Cần Thơ - Sóc Trăng, Cao Lãnh - An Hữu và Vành đai 4 Hà Nội.
Trong năm 2026, dự kiến sẽ có thêm khoảng 152 km cao tốc được đưa vào khai thác, gồm các đoạn thuộc tuyến Khánh Hòa - Buôn Ma Thuột, Đồng Đăng - Trà Lĩnh, Hữu Nghị - Chi Lăng và Tuyên Quang - Hà Giang.
Song song với đó, nhiều dự án đã được bố trí vốn và đang chuẩn bị đầu tư như Quy Nhơn - Pleiku, Dầu Giây - Tân Phú, Tân Phú - Bảo Lộc, TP.HCM - Mộc Bài và Vành đai 4 TP.HCM.
Ngoài ra, khoảng 759 km cao tốc khác đang được nghiên cứu huy động nguồn vốn để triển khai, gồm cầu Cần Thơ 2 và đường dẫn, Phú Thọ - Cổ Tiết - Chợ Bến, Đức Hòa - Mỹ An, Bắc Kạn - Cao Bằng, Cam Lộ - Lao Bảo, Quảng Ngãi - Kon Tum, Gò Dầu - Xa Mát, Cà Mau - Đất Mũi và nhiều tuyến quan trọng khác.
Theo tính toán của Bộ Xây dựng, nếu các dự án được triển khai đúng tiến độ, đến năm 2030 mạng lưới đường bộ cao tốc cả nước sẽ đạt khoảng 5.561 km, vượt mục tiêu Đại hội XIII của Đảng đề ra.
Song song với kế hoạch trên, Cục Đường bộ Việt Nam cũng vừa đề xuất bổ sung quy hoạch 5 tuyến cao tốc mới.
Đáng chú ý, trong số này có hai tuyến cao tốc Vành đai 1 và Vành đai 2 của khu vực trung du, miền núi phía Bắc. Cụ thể, cao tốc Vành đai 1 bắt đầu từ nút giao với cao tốc Đồng Đăng - Trà Lĩnh tại Lạng Sơn, kết thúc tại nút giao với cao tốc Hà Nội - Hòa Bình - Sơn La - Điện Biên ở Sơn La, đi qua các tỉnh Lạng Sơn, Thái Nguyên, Tuyên Quang, Lào Cai và Sơn La.
Trong khi đó, cao tốc Vành đai 2 dài khoảng 378 km, quy mô 4 làn xe, cũng kết nối từ Lạng Sơn đến Sơn La. Tuyến được đề xuất đầu tư sau năm 2030, riêng đoạn Lạng Sơn - Thái Nguyên sẽ được nghiên cứu triển khai sớm.
Ba tuyến còn lại gồm Hà Tĩnh - Cầu Treo, Huế - A Lưới và Phan Thiết - Bảo Lộc - Gia Nghĩa, được kỳ vọng mở rộng không gian phát triển, tăng cường kết nối liên vùng và tạo thêm dư địa phát triển kinh tế trong giai đoạn tới.
Theo lãnh đạo Cục Kinh tế - Quản lý đầu tư xây dựng, việc ưu tiên nguồn lực cho các tuyến cao tốc có tính kết nối vùng và tạo động lực phát triển là yêu cầu then chốt trong giai đoạn tới.
"Khi các tuyến cao tốc này hoàn thành, mạng lưới cao tốc quốc gia sẽ đạt quy mô khoảng 5.000 km, kết nối thông suốt từ Bắc tới Nam, từ miền núi đến đồng bằng và ven biển, hình thành trục phát triển chiến lược, tạo động lực tăng trưởng cho cả nước” - ông Minh nhấn mạnh.
Đề xuất mở rộng thêm nhiều tuyến cao tốc sau năm 2030
Ngoài các dự án đang triển khai, Cục Đường bộ Việt Nam còn đề xuất điều chỉnh, kéo dài một số tuyến cao tốc quan trọng.
Cụ thể, tuyến Buôn Ma Thuột - Liên Khương được đề xuất kéo dài kết nối với cao tốc Bắc - Nam phía Đông, nâng chiều dài toàn tuyến lên khoảng 184 km, quy mô 4 làn xe.
Đối với tuyến TP.HCM - Tiền Giang - Bến Tre - Trà Vinh - Sóc Trăng, cơ quan này đề xuất kéo dài đến Cà Mau để kết nối với cao tốc Cà Mau - Đất Mũi. Sau điều chỉnh, toàn tuyến dài khoảng 260 km, quy mô 4 làn xe.
Đồng thời, tiến độ đầu tư tuyến TP.HCM - Tiền Giang - Bến Tre - Trà Vinh - Sóc Trăng cũng được đề xuất đẩy sớm, triển khai trước và sau năm 2030 thay vì chỉ thực hiện sau năm 2030 như quy hoạch trước đây.