Anh xin làm sóng biếc
Hôn mãi cát vàng em
Xuân Diệu đã nổi danh từ “Thơ Thơ - 1938” với lời tựa của Thế Lữ: “Ở tình cảnh nào, Xuân Diệu cũng có lời mềm mại hoặc sáng lạn, đê mê, hoặc là lả lơi sung sướng, hoặc buồn bã thiết tha như tiếng thở than tận cõi sâu kín của tâm hồn... Hát lên những tiếng đẹp đẽ ngọt ngào đã yên ủi được chúng ta trong cuộc đời hiện thực”.
Tôi có nhiều kỷ niệm với Xuân Diệu lúc tập kết ra Bắc. Xuân Diệu là nhà thơ nổi tiếng, đại biểu Quốc hội lại là nhà văn viết bút ký chính luận tài hoa. Khi ở Đài tiếng nói Việt Nam, tôi phụ trách buổi phát thanh vào Nam. Tôi thường đến nhà Xuân Diệu “gõ cửa” đặt bài. Văn của ông trong sáng, giàu hình tượng dễ thuyết phục văn nghệ sĩ, trí thức miền Nam. Sáng nào ông cũng tập thể dục, rồi ngồi vào bàn viết đến khuya. Mỗi lần tôi đến, ông lại ngẩng đầu lên: “Mình đang viết bài trả nợ cho cậu đây!”.
Vào khoảng cuối năm 1968, giặc Mỹ leo thang đánh phá ác liệt vào Khu 4 cũ bằng hải quân và không quân. Có lần tôi cùng ông đi từ Hà Nội vào Vĩnh Linh, tháp tùng đoàn đại biểu Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam do bác sĩ Phùng Văn Cung dẫn đầu ra thăm miền Bắc. Đêm đêm, chúng tôi ngủ chung dưới hầm địa đạo, hoặc trong các trận địa pháo cao xạ. Nhiều đêm Xuân Diệu đọc thơ và nói chuyện phục vụ đồng bào, chiến sĩ, giáo viên, học trò vùng có chiến sự. Tôi là người được nhiều lần nghe ông bình thơ. Ông thường bảo tôi: “Tuấn đi ngủ sớm, hôm nay mình vẫn đọc thơ cho chiến sĩ như lần trước”. Cả cuộc đời thơ, ông như người diễn viên, diễn giả về thơ đến trên 500 lần. Nhà văn Tô Hoài nói: “Đây là thói quen rất quý của anh, bao nhiêu năm tôi đi thực tế cùng Xuân Diệu vẫn thế”.
Có lần chúng tôi lên huyện Giằng (Quảng Nam) sáng sớm qua huyện Đại Lộc. Tôi hỏi nay đi đâu? Anh nói, đi nói chuyện thơ với giáo viên toàn huyện. Vài lần ông được mời sang tận Paris nói chuyện với giáo sư, sinh viên Đại học Sóc-bon về “Sự đóng góp của thơ Pháp vào thơ Việt”. Tại các diễn đàn hội nghị các nhà văn châu Á và hòa bình thế giới, ông không bỏ lỡ dịp nói chuyện thơ Việt Nam kháng chiến. Những ngày công tác cùng ông ở Khu 4, vùng giặc Mỹ đánh phá ác liệt, đêm đêm ông vẫn che đèn đọc sách, hoặc dịch, sáng tác, ghi chép. Và ông bảo ban tôi bao kinh nghiệm sống, kinh nghiệm viết. Ông khuyên tôi văn ôn võ luyện, rèn mãi sẽ thành.
Một chiều im tiếng súng ở Khu 4, tôi và ông ra một bến sông mua chất tươi bồi dưỡng, vì suốt cả tuần ngồi xe bị táo bón. Chúng tôi gặp một chiếc cầu nhỏ ở phía nam Đồng Hới chỉ 10m chiều dài, nhưng có hàng trăm hố bom lỗ chỗ hai bên đầu cầu. Thế rồi máy bay ào đến. Tôi và ông chui xuống một hố bom nấp. Máy bay rải đạn tứ tung, may không việc gì. Xuân Diệu nói: “Nếu cậu chết mình cũng phải bị kỷ luật đấy, vì bỏ đoàn trốn đi”. Tôi nói: “Anh mới là vốn quý, tài sản của quốc gia, còn em có ăn nhằm gì!”. Thế là hai anh em cùng níu tay, đỡ nhau dậy và cười vui.
Năm mươi năm làm thơ, Xuân Diệu đã xuất bản được 17 tập thơ (có 400 bài thơ tình chưa in), 7 tập truyện ngắn và bút ký, 19 tập phê bình tiểu luận về thơ và 6 tập dịch thơ của các thi hào trên thế giới như: Na-dim Hit-mét (1962), Mai-a-cốp-xky (1967), Đi-mi-trô-va (1968), Tagore (1956), Ni-cơ-la Ghi-den (1982). Ông còn có các công trình nghiên cứu về các nhà thơ lớn của Việt Nam như: Nguyễn Trãi, Hồ Xuân Hương, Nguyễn Du, Nguyễn Đình Chiểu, Trần Tế Xương, Nguyễn Khuyến, Tản Đà, Trần Tuấn Khải và một số nhà thơ cổ điển, hiện đại khác. Thơ và tác phẩm của ông được dịch ra hàng chục thứ tiếng trên thế giới.
Cho đến lúc gần ra đi, thi hào Xuân Diệu vẫn lạc quan:
Hãy để cho tôi được giã từ
Vẫy chào cõi thực để vào hư
Trong hơi thở chót dâng trời đất
Cũng vẫn si tình đến ngất ngư.
Theo Đ.M.T (CATP)