Các giải pháp để đưa tiếng Anh thành ngôn ngữ thứ 2

Các giải pháp để đưa tiếng Anh thành ngôn ngữ thứ 2

(PLO)- Các chuyên gia giáo dục cho rằng cần có các giải pháp khả thi để việc đưa tiếng Anh trở thành ngôn ngữ thứ hai trong trường học.

Trong dự thảo Văn kiện Đại hội Đảng có đề cập đến việc “Nâng cao năng lực ngoại ngữ của học sinh, sinh viên, đưa tiếng Anh trở thành ngôn ngữ thứ hai trong trường học”.

Đề án “Đưa tiếng Anh thành ngôn ngữ thứ hai trong trường học” giai đoạn 2025-2035, tầm nhìn đến năm 2045 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt.

Theo đó, chương trình tiếng Anh lớp 1 sẽ tập trung phát triển năng lực giao tiếp, đặc biệt là kỹ năng nghe - nói. Học sinh được làm quen ngôn ngữ thông qua bài hát, trò chơi, hoạt động trải nghiệm. Chương trình không đặt nặng kiến thức ngữ pháp, chú trọng tạo hứng thú và sự tự tin khi sử dụng tiếng Anh.

Phù hợp với tâm lý lứa tuổi

Cô Nguyễn Thị Thùy Trang, giáo viên Trường Tiểu học Võ Thị Sáu, phường An Hội Đông, nhận định đây là hướng đi đúng đắn.

Cô Trang nhấn mạnh: “Ở độ tuổi này, trẻ dễ bắt chước ngữ điệu và âm thanh. Việc tiếp cận tiếng Anh từ sớm giúp hình thành khả năng phát âm tự nhiên và phản xạ nhanh, tạo nền tảng vững chắc cho quá trình học ngoại ngữ ở các cấp học tiếp theo”.

p16-17 Tieng Anh_h1.JPG
Giờ học tiếng Anh với giáo viên nước ngoài của học sinh lớp 1 Trường Tiểu học Thuận Kiều, phường Đông Hưng Thuận. Ảnh: NGUYỄN QUYÊN

Theo cô Trang, khi tiếng Anh trở thành môn học bắt buộc, phụ huynh ý thức rõ hơn về tầm quan trọng của ngoại ngữ. Từ đó, họ phối hợp tốt hơn với giáo viên trong việc hỗ trợ con học tập.

Bên cạnh đó, tài liệu và phương pháp dạy học ngày càng phong phú, hấp dẫn, mang lại sự hứng thú cho học sinh. Đội ngũ giáo viên tiểu học đa số đã có chứng chỉ giảng dạy tiếng Anh tiểu học và được tập huấn phương pháp dạy học lấy học sinh làm trung tâm.

Khi tiếng Anh mới chỉ được giảng dạy bắt buộc từ lớp 6 (theo chương trình giáo dục phổ thông 2006) và từ lớp 3 (theo chương trình giáo dục phổ thông 2018) thì tại TP.HCM, tiếng Anh đã được giảng dạy ngay từ lớp 1 từ những năm 1994. Đến nay, gần 100% học sinh từ lớp 1 TP đã được tiếp cận với tiếng Anh ngay trong trường tiểu học. Nếu tính riêng khu vực 1, tỉ lệ này đạt 100%.

Cùng quan điểm, cô Phạm Thị Thu, Tổ trưởng bộ môn tiếng Anh Trường Tiểu học Thuận Kiều, phường Đông Hưng Thuận, cho rằng việc dạy tiếng Anh bắt buộc từ lớp 1 là cần thiết trong bối cảnh hội nhập quốc tế.

Hiện học sinh lớp 1 của trường đang học tiếng Anh theo hình thức tự chọn với sáu tiết/tuần, gồm hai tiết theo chương trình của Sở GD&ĐT, hai tiết với giáo viên bản ngữ và hai tiết tích hợp chương trình toán - khoa học.

Cơ sở vật chất của trường đáp ứng tốt yêu cầu dạy học như phòng học đa năng, bảng thông minh, màn hình LED. Tuy nhiên, để chương trình đạt hiệu quả cao, phụ huynh cần đồng hành cùng giáo viên, nhất là trong việc luyện tập thêm cho trẻ tại nhà.

Tại Trường Tiểu học Trần Quốc Toản, phường Thới An, Tổ trưởng bộ môn Phạm Thị Thanh Thảo bày tỏ giáo viên đồng thuận khi tiếng Anh trở thành môn bắt buộc từ lớp 1. Như vậy học sinh sẽ có cơ hội tiếp cận đồng đều hơn.

Mặc dù hiện chỉ là môn học tự chọn, nhiều phụ huynh vẫn chủ động cho con thi chứng chỉ Cambridge như Starters hay Flyers. Điều này cho thấy nhu cầu và mong muốn học tiếng Anh từ sớm ngày càng rõ rệt.

Bà Phạm Thị Bình, Hiệu trưởng, đánh giá việc học tiếng Anh từ lớp 1 mang lại nhiều ý nghĩa tích cực. Nó giúp học sinh làm quen ngôn ngữ sớm, phát triển phản xạ tự nhiên và tư duy song ngữ.

p16-17 Tieng Anh_h2.JPG
Tiết học tiếng Anh của học sinh lớp 1 Trường Tiểu học Trần Quốc Toản, phường Thới An. Ảnh: NGUYỄN QUYÊN

Hiện trường có hai giáo viên tiếng Anh cơ hữu, trong đó một người vừa trúng tuyển trong đợt tuyển dụng của Sở GD&ĐT TP.HCM. Ngoài ra, trường mời thêm giáo viên thỉnh giảng để đảm bảo đủ tiết học theo quy định.

Khi tiếng Anh trở thành môn học bắt buộc từ lớp 1, nhu cầu giáo viên chắc chắn sẽ tăng lên đáng kể. TP.HCM có nguồn giáo viên tiếng Anh dồi dào. Mặt khác, cơ chế thỉnh giảng cũng giúp các trường linh hoạt trong bố trí giảng dạy mà vẫn đáp ứng yêu cầu của chương trình.

Không ít thách thức

Dù mang lại nhiều lợi ích, giáo viên cũng thừa nhận việc triển khai bắt buộc tiếng Anh từ lớp 1 gặp không ít thách thức.

Theo cô Nguyễn Thị Thùy Trang, khó khăn lớn nhất là sự không đồng đều về trình độ. Bởi có nhiều em đã làm quen tiếng Anh từ mầm non hoặc tại các trung tâm nhưng cũng có em hoàn toàn mới bắt đầu. Điều này khiến giáo viên khó cân bằng nội dung giảng dạy.

Bên cạnh đó, học sinh lớp 1 thường chỉ tập trung được khoảng 10-15 phút. Điều này buộc giáo viên phải liên tục thay đổi hoạt động dạy học. Một số em chưa nắm vững mặt chữ tiếng Việt nên học tiếng Anh song song dễ trở nên lúng túng. Thực tế này đòi hỏi giáo viên phải vừa dạy vừa chơi, vừa quản lý lớp học. Áp lực lớn hơn so với nhiều môn khác.

Hiệu trưởng Trường Tiểu học Thuận Kiều Lê Thị Thoa cho rằng dù có khó khăn khi học sinh vừa làm quen tiếng Việt, việc triển khai vẫn khả thi nếu có lộ trình phù hợp và sự phối hợp chặt chẽ giữa nhà trường, giáo viên, phụ huynh.

Bà Thoa nhấn mạnh việc nhiều trẻ đã được làm quen tiếng Anh ở mầm non giúp việc tiếp cận chương trình ở tiểu học thuận lợi hơn.

Tuy nhiên, theo vị hiệu trưởng này, để đưa tiếng Anh trở thành ngôn ngữ thứ hai, cần tính đến việc chuẩn bị đội ngũ giáo viên có thể dạy các môn như toán, khoa học bằng tiếng Anh. Một số đơn vị đã đề xuất thí điểm mô hình này nhưng chi phí cao nên hiện chỉ áp dụng ở quy mô nhỏ. Để nhân rộng cần có lộ trình và nguồn lực phù hợp, bảo đảm tính khả thi trong điều kiện thực tế.

Một khó khăn khác nằm ở áp lực đánh giá. Khi trở thành môn bắt buộc, học sinh sẽ được chấm điểm thay vì chỉ nhận xét. Điều này có thể tạo thêm áp lực về thành tích, dù giáo viên cho rằng chương trình lớp 1 hiện nay khá nhẹ, chủ yếu là làm quen và tập trung vào nghe nói.

Ngoài ra, không thể bỏ qua yếu tố chênh lệch điều kiện kinh tế - xã hội giữa các khu vực. Ở các khu dân cư mới, có nhiều phụ huynh trẻ, thu nhập ổn định, mức độ đầu tư cho con học ngoại ngữ cao.

Ngược lại, tại nơi có thu nhập thấp, phụ huynh ít có điều kiện cho con học thêm. Điều này dẫn đến sự không đồng đều về năng lực học sinh giữa các lớp. Đây là một trong những rào cản lớn trong việc nâng cao chất lượng tiếng Anh ở quy mô toàn TP.•

Thời gian thực hiện của đề án “Đưa tiếng Anh thành ngôn ngữ thứ hai trong trường học” là 20 năm, từ năm 2025 đến 2045, được triển khai với ba giai đoạn chính.

Giai đoạn 1 (2025-2030) là xây dựng nền tảng và chuẩn hóa: Bảo đảm nền tảng vững chắc để tiếng Anh được sử dụng thường xuyên và có hệ thống trong môi trường giáo dục.

Giai đoạn 2 (2030-2035) là mở rộng và tăng cường: Đẩy mạnh việc sử dụng tiếng Anh một cách thường xuyên hơn.

Giai đoạn 3 (2035-2045) là hoàn thiện và nâng cao: Tiếng Anh được sử dụng một cách tự nhiên, phát triển hệ sinh thái sử dụng tiếng Anh trong môi trường giáo dục, giao tiếp và quản trị nhà trường.

Ông BÙI KHÁNH NGUYÊN, diễn giả giáo dục độc lập:

Quan trọng là dạy đúng cách

p16-17 Tieng Anh_Chan trang_h1_BUI KHANH NGUYEN.jpg

Việc chuyển thời điểm dạy tiếng Anh bắt buộc từ lớp 3 xuống lớp 1 về bản chất không tạo ra khác biệt lớn, vì cả hai đều là bắt đầu sớm. Hiệu quả không nằm ở thời điểm mà nằm ở cách dạy và mức độ chuẩn bị của hệ thống.

Nếu tiếp tục dạy tiếng Anh cho trẻ em theo cách của người lớn, chủ yếu dựa vào sách giáo khoa và bài tập thì dù học từ lớp 1, chất lượng cũng khó cải thiện. Giáo viên cần được đào tạo bài bản về phương pháp dạy cho trẻ nhỏ, biết tổ chức hoạt động học thông qua chơi, vận động, kể chuyện, bài hát và tương tác.

Bên cạnh đội ngũ giáo viên, các điều kiện như sĩ số lớp học, cơ sở vật chất, thư viện, câu lạc bộ, phần mềm học tập và môi trường giao tiếp cũng phải được đảm bảo đồng bộ. Nếu không chuẩn bị đầy đủ, một chính sách hay có thể bị triển khai hình thức, dạy cho có, chạy theo thành tích.

Các giải pháp công nghệ như phần mềm học miễn phí, trường học trực tuyến hay công cụ luyện phát âm bằng AI có thể hỗ trợ hệ thống nhưng chỉ phát huy hiệu quả khi đi kèm đội ngũ giáo viên được chuẩn hóa.

Bà NGUYỄN THỊ SONG TRÀ, Giám đốc Công ty TNHH Giáo dục và Đào tạo TH (THedu):

Nhân lực quyết định thành công của chính sách

p16-17 Tieng Anh_Chan trang_h2_NGUYEN THI SONG TRA.jpg

Nhân lực là điều kiện tiên quyết để việc dạy tiếng Anh bắt buộc từ lớp 1 có thể triển khai hiệu quả. Vì vậy, cần có chính sách thu hút, mở rộng nguồn tuyển và đào tạo giáo viên tiếng Anh cho bậc tiểu học.

Không chỉ giáo viên tiếng Anh, giáo viên các môn học khác cũng cần được nâng cao năng lực ngoại ngữ để cùng tham gia tạo môi trường học tập bằng tiếng Anh trong nhà trường.

Khi tiếng Anh trở thành môn bắt buộc từ lớp 1, trình độ học sinh sẽ có sự chênh lệch lớn. Do đó, cần chia nhóm theo năng lực và cá nhân hóa chương trình. Ở giai đoạn đầu, không nên đặt nặng kiểm tra, đánh giá để tránh gây áp lực cho học sinh.

Ông ĐỖ KỲ CÔNG, Tổng Giám đốc Hệ thống giáo dục Tân Văn:

Mầm non là nền tảng tốt nhất để làm quen tiếng Anh

p16-17 Tieng Anh_Chan trang_h3_DO KY CONG.jpg

Khi tiếng Anh được xác định là ngôn ngữ thứ hai, bậc mầm non là nền tảng phù hợp nhất để trẻ tiếp cận từ sớm. Việc đưa tiếng Anh vào mầm non không chỉ giúp trẻ phát triển ngoại ngữ mà còn hỗ trợ kỹ năng ngôn ngữ nói chung, kể cả phát âm tiếng mẹ đẻ.

Nền tảng này giúp trẻ học tốt hơn khi bước vào tiểu học. Vì vậy, khi triển khai dạy tiếng Anh bắt buộc từ lớp 1, giai đoạn đầu cần giữ tinh thần “làm quen”, tránh tạo áp lực quá sớm.

TP.HCM có lợi thế khi phần lớn trẻ mầm non đã được tiếp xúc với tiếng Anh. Trong khi đó, nhiều địa phương vùng sâu, vùng xa còn gặp khó khăn do thiếu cơ sở vật chất và đơn vị chuyên môn.

Công tác truyền thông rất quan trọng, vì khi phụ huynh thấy con vui và nói được vài câu tiếng Anh, họ sẽ thay đổi nhận thức.

Ông HUỲNH THANH PHÚ, Hiệu trưởng Trường THPT Bùi Thị Xuân, phường Bến Thành:

Cần lộ trình triển khai phù hợp cho từng vùng miền

p16-17 Tieng Anh_Chan trang_h4_HUYNH THANH PHU.jpg

Một chính sách hay chỉ có ý nghĩa khi được triển khai công bằng và khả thi. Dạy tiếng Anh bắt buộc từ lớp 1 cần có lộ trình rõ ràng, phân tầng theo điều kiện từng vùng miền.

Ở các đô thị lớn, nơi cơ sở vật chất và đội ngũ giáo viên đã sẵn sàng, có thể triển khai toàn diện và kết hợp các chuẩn đánh giá quốc tế như IELTS, TOEFL hoặc CEFR.

Ở nông thôn, miền núi, nên triển khai theo lộ trình từng cấp học, từng cụm trường; kết hợp học trực tuyến, truyền hình và giáo viên luân chuyển.

Với vùng biên giới, hải đảo, cần ưu tiên đầu tư công nghệ, dạy trực tuyến có giáo viên từ xa và bồi dưỡng giáo viên địa phương để đảm bảo tính bền vững, thu hẹp khoảng cách vùng miền.

Đọc thêm