Đột phá thể chế, tạo 'luật chơi' cạnh tranh minh bạch

Đột phá thể chế, tạo 'luật chơi' cạnh tranh minh bạch

(PLO)- Để hiện thực hóa khát vọng tăng trưởng kinh tế hai con số, cải cách thể chế được xác định là khâu đột phá quan trọng nhằm gỡ những “điểm nghẽn” này.

Dự thảo Văn kiện Đại hội XIV đặt ra khát vọng đưa đất nước bước vào kỷ nguyên vươn mình với mục tiêu tăng trưởng kinh tế hai con số. Để đạt mục tiêu này, ông Nguyễn Quang Đồng (ảnh), Viện trưởng Viện Nghiên cứu Chính sách và Phát triển truyền thông (IPS), cho rằng Việt Nam không chỉ cần nguồn lực mà cấp thiết hơn là một “luật chơi” cạnh tranh minh bạch và sự an toàn pháp lý để doanh nghiệp (DN) tư nhân dám dồn lực cất cánh.

DN nhà nước dẫn dắt, tư nhân là động lực

. Phóng viên: Dự thảo Văn kiện Đại hội XIV đã đặt ra mục tiêu tăng trưởng hai con số. Vai trò của thể chế để mở khóa mục tiêu này cần được xác định như thế nào, thưa ông?

+ Ông Nguyễn Quang Đồng: Quan điểm cho rằng thể chế là nút thắt chính và cải cách thể chế để thúc đẩy tăng trưởng là quan điểm hoàn toàn đúng đắn. Thực tế, không phải chờ đến Đại hội XIV chúng ta mới bàn đến chuyện thay đổi thể chế mà từ năm 2024, rất nhiều quyết sách chiến lược được Bộ Chính trị ban hành đã hướng đến mục tiêu này, trong đó có “bộ tứ nghị quyết trụ cột”.

p4-5-anhchinh.jpg
Thủ tướng Phạm Minh Chính tham quan dây chuyền sản xuất của Tập đoàn THACO tại Quảng Nam. Ảnh: VGP

Để hiểu tại sao tăng trưởng hai con số cần đến thể chế thuận lợi, phải nhìn vào mô hình tăng trưởng. Giai đoạn sau đổi mới, Việt Nam mở cửa cho phát triển kinh tế thị trường, tăng trưởng dựa theo chiều rộng, phụ thuộc lớn vào vốn đầu tư nước ngoài (FDI), tài nguyên và nguồn lực tài chính mà chưa dựa mạnh vào năng suất lao động.

Nếu tiếp tục dựa vào mô hình này, chúng ta chỉ đang làm thuê và xuất khẩu hộ, miếng bánh giá trị người Việt được hưởng rất ít. Số liệu năm 2025 cho thấy hơn 70%-80% tỉ trọng xuất khẩu thuộc về DN FDI, trong khi tỉ trọng của DN nội địa lại đi xuống. Điều đấy cho thấy dù có thể tăng trưởng cao nhưng lại phụ thuộc vào FDI rất lớn. Lúc này, tỉ trọng GDP có thể tăng nhưng GNP lại giảm bởi DN FDI có xu thế chuyển lợi nhuận về nước.

Do vậy, muốn tăng trưởng hai con số thực chất, chúng ta phải chuyển sang tăng trưởng dựa trên năng suất lao động và hàm lượng chất xám. Muốn tăng trưởng bền vững phải dựa vào DN bởi chỉ có DN mới tạo ra việc làm, là nơi đầu tư để nâng cao năng suất lao động. Trong đó, DN nhà nước đóng vai trò chủ đạo, dẫn dắt hạ tầng lớn của nền kinh tế, còn DN tư nhân là động lực thực sự. Do đó, vai trò của thể chế lúc này là làm sao để khu vực DN tư nhân lớn mạnh, tham gia được vào chuỗi giá trị toàn cầu. Đây phải là quyết sách cốt lõi.

. Tổng Bí thư Tô Lâm nhiều lần phát biểu rằng thể chế đang là “điểm nghẽn của điểm nghẽn”. Vậy đâu là rào cản thể chế lớn nhất đang kìm hãm động lực này?

+ Tôi nghĩ kể cả khi có Nghị quyết 68 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân, thách thức lớn nhất chính là bài toán cạnh tranh công bằng để DN tư nhân phát triển.

Đặc thù kinh tế Việt Nam là DN siêu nhỏ, nhỏ và vừa chiếm tỉ trọng rất lớn (trên 97%). Rào cản nằm ở việc làm sao để nhóm này lớn lên được, cạnh tranh và tham gia vào chuỗi giá trị. Nếu chúng ta phát triển kinh tế tư nhân nhưng chỉ dồn nguồn lực vào DN lớn sẽ khó thành công và nhiều rủi ro.

Mặt khác, không được phép để xảy ra tình trạng DN “thân hữu”, “sân sau” lũng đoạn chính sách, tạo ra môi trường kinh doanh bất bình đẳng. Tôi lấy ví dụ về các chính sách lớn như phát triển nhà ở xã hội hay đầu tư hạ tầng… Nếu không có cơ chế ngăn chặn, để nguồn lực đất đai, vốn vay ưu đãi rơi vào tay các DN “thân hữu” thay vì những DN có năng lực thì nguồn lực quốc gia sẽ bị méo mó và lãng phí.

p4-5 Ong Nguyen Quang Dong.jpg
Ông Nguyễn Quang Đồng, Viện trưởng Viện Nghiên cứu Chính sách và Phát triển truyền thông (IPS).

Thiết kế cơ chế, quy trình cạnh tranh minh bạch

. Tăng trưởng hai con số bắt buộc phải dựa trên các động lực mới như kinh tế số, kinh tế xanh, đổi mới sáng tạo. Tuy nhiên, khung pháp lý cho các mô hình này dường như vẫn đang đi sau thực tiễn?

+ Chúng ta nói rất nhiều về kinh tế số, làm chip, bán dẫn... Tuy nhiên, hãy nhìn vào thực tế rằng các tập đoàn công nghệ lớn như NVIDIA dù khen Việt Nam nhưng họ vẫn chọn Malaysia, Indonesia… để đặt nhà máy trước tiên.

Hay Việt Nam muốn làm kinh tế số nhưng các DN công nghệ chưa chọn chúng ta để đặt trung tâm dữ liệu. Theo tôi, lý do là vì chúng ta chưa có các trung tâm dữ liệu lớn, quy định pháp luật về lưu trữ dữ liệu, chuyển dữ liệu xuyên biên giới quá khắt khe, xung đột với lợi ích của họ. Tức chúng ta có chính sách, có ưu tiên nhưng DN không đầu tư vì họ nhìn vào “quyển sách của DN”, họ tính toán bài toán chi phí và rủi ro.

Tương tự, câu chuyện startup (khởi nghiệp), dù chúng ta có trung tâm tài chính nhưng trong ngắn hạn, các startup công nghệ vẫn sẽ chọn Singapore để đặt trụ sở pháp lý. Đó là tình trạng “trên rải thảm, dưới rải đinh”, chủ trương thì rải thảm nhưng quy định cụ thể bên dưới lại đầy rẫy rào cản.

nguyen-hoa-binh-san-bay-long-thanh.jpg
Điều quan trọng đối với DN là nguồn lực quốc gia chảy vào đâu và môi trường pháp lý kinh doanh như thế nào khi bỏ tiền ra đầu tư. Ảnh: VGP

. Vậy DN cần gì, thưa ông?

+ Đối với DN, hai câu hỏi quan trọng nhất luôn là nguồn lực quốc gia chảy vào đâu và môi trường pháp lý kinh doanh như thế nào.

Đặc biệt, với các lĩnh vực như hạ tầng, bất động sản, tài nguyên, bài toán quan trọng là làm thế nào thiết kế được cơ chế cạnh tranh để sử dụng nguồn lực của Nhà nước hiệu quả nhất. Khi chúng ta cam kết đổ tiền vào các siêu dự án như điện hạt nhân, các công trình giao thông lớn..., rủi ro lớn nhất là lãng phí. Nếu không tìm được nhà thầu qua một quy trình cạnh tranh minh bạch, chất lượng công trình sẽ không đảm bảo.

Lấy ví dụ câu chuyện sân bay Long Thành, Nhà nước có thể xây xong cái vỏ sân bay, làm xong một số tuyến đường kết nối. Tuy nhiên, để sân bay hoạt động hiệu quả, có khách hay không, dịch vụ đi kèm thế nào... lại là câu chuyện của thị trường và DN. Nếu không có cơ chế thu hút DN tham gia một cách đồng bộ và minh bạch thì hiệu quả khai thác kinh tế sẽ rất thấp.

Tôi muốn nhấn mạnh một cảnh báo: Nếu không có cạnh tranh, để nguồn lực rơi vào tay các DN “thân hữu”, “sân sau” thì nguồn lực quốc gia sẽ bị lãng phí nghiêm trọng. Khi đó, mục tiêu tăng trưởng hai con số có thể đạt được trong vài năm ngắn hạn nhờ tốc độ giải ngân nhưng về dài hạn nền kinh tế sẽ không phát triển thực chất, thậm chí đất nước sẽ “ngồi trên đống nợ”.

Vì vậy, mấu chốt trong giai đoạn tới, khi cụ thể hóa luật, nghị quyết vào cuộc sống, phải thiết lập được “luật chơi” công bằng. Phải đảm bảo cơ chế tiếp cận nguồn lực dựa trên sự cạnh tranh minh bạch. Chỉ có cạnh tranh minh bạch mới triệt tiêu được lợi ích nhóm và mang lại hiệu quả thực sự cho nền kinh tế.

. Xin cảm ơn ông.

Ba ưu tiên quan trọng

Để tạo đòn bẩy tăng trưởng, tôi cho rằng có ba ưu tiên quan trọng.

Thứ nhất, cần thiết chế cạnh tranh trong tiếp cận nguồn lực. Phải đảm bảo đấu thầu minh bạch để chọn người làm tốt nhất. Trong các gói thầu lớn đó cũng cần thiết kế để DN vừa và nhỏ có thể tham gia vào các cấu phần phụ trợ.

Thứ hai, cải cách hệ thống tòa án. Tòa án phải là nơi xử lý các tranh chấp kinh tế, bảo vệ quyền lợi và sự an toàn cho doanh nhân. Cần gỡ điểm nghẽn lớn hiện nay là xử lý dân sự thay vì hình sự hóa các quan hệ kinh tế. Sai đến đâu bồi thường đến đó bằng tiền, bằng uy tín, chứ không phải bằng tù tội.

Thứ ba, rút ngắn thủ tục hành chính thực chất. Thời gian qua, Chính phủ đã chỉ đạo phải cắt giảm tối thiểu 30% thủ tục hành chính, 30% chi phí tuân thủ và thời gian giải quyết thủ tục hành chính liên quan đến hoạt động sản xuất, kinh doanh, theo tinh thần Nghị quyết 66 của Bộ Chính trị. Thế nhưng chúng ta cần giám sát, đo đếm kết quả, thậm chí có chế tài, kỷ luật và gắn trách nhiệm cá nhân của lãnh đạo bộ, ngành, địa phương với các chỉ số này.

Viện trưởng Viện Nghiên cứu Chính sách và Phát triển truyền thông NGUYỄN QUANG ĐỒNG

*****

ThS NGUYỄN HOÀNG BẢO KHƯƠNG, Trường ĐH Kinh tế - Luật, ĐH Quốc gia TP.HCM:

Cần phương pháp bài bản để tiếp cận mục tiêu tăng trưởng

Việt Nam dù đã trải qua những giai đoạn phát triển vượt trội nhưng con số tăng trưởng 10%/năm vẫn là một ngưỡng mục tiêu chưa thể chinh phục. Nhiều chuyên gia nhận định đây thực sự là thách thức lớn đối với Việt Nam. Tuy nhiên, việc đặt ra con số này chính là điểm nhấn chiến lược, thể hiện khát vọng sớm đưa Việt Nam trở thành quốc gia có thu nhập cao vào năm 2045.

Để hiện thực hóa mục tiêu này, Việt Nam cần phương pháp tiếp cận bài bản, trong đó yếu tố cốt lõi nằm ở khâu phân bổ, sử dụng nguồn lực sao cho hiệu quả. Điều này đòi hỏi chúng ta phải đổi mới tư duy, cơ cấu lại toàn bộ nền kinh tế, thúc đẩy tăng trưởng trên nền tảng đảm bảo ổn định vĩ mô và các cân đối lớn. Việc đưa các DN nhà nước hoạt động theo chuẩn mực quốc tế để phát huy vai trò dẫn dắt sẽ là nhiệm vụ then chốt.

Đối với khu vực kinh tế tư nhân, vấn đề cốt yếu là đầu tư vào nguồn nhân lực kỹ thuật với mục tiêu đưa tốc độ tăng năng suất lao động đạt khoảng 8,5%/năm. Đây được đánh giá là chỉ tiêu đầy tham vọng khi giai đoạn 2020-2025, con số này chỉ đạt khoảng 5,3%/năm. Dù con số 5,3% được xem là tương đối tốt so với khu vực nhưng vẫn còn khoảng cách khá xa nếu so sánh với Hàn Quốc, Nhật Bản, Singapore và vẫn đứng sau Thái Lan, Malaysia hay Indonesia.

Sự trỗi dậy mạnh mẽ của trí tuệ nhân tạo (AI) được kỳ vọng tạo cú hích đáng kể cho tốc độ tăng năng suất lao động. Tuy nhiên, sự tiến bộ này cũng song hành với những rủi ro về thất nghiệp hay bảo vệ tài sản trí tuệ.

Song song đó, hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội phải có những bước phát triển bứt phá. Hàng loạt công trình quy mô lớn như đường bộ cao tốc, sân bay, cảng biển và hạ tầng số cần được đầu tư nâng cấp để thay đổi diện mạo và mở ra không gian phát triển mới.

Đặc biệt, việc chú trọng đầu tư cho khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, nhất là xây dựng trung tâm dữ liệu quốc gia và ứng dụng dữ liệu dân cư,

sẽ tạo động lực đổi mới mô hình tăng trưởng. Với mục tiêu tỉ trọng kinh tế số đạt khoảng 30% GDP, Việt Nam có nhiều dư địa thu hút đầu tư nước ngoài và đẩy mạnh phát triển kinh tế số trong nước. Sự thành công của các DN như Momo, Zalo hay bảo hiểm vi mô (Micro-insurance) số hóa toàn diện là minh chứng rõ nét cho tiềm năng này.

Nền kinh tế Việt Nam đang đứng trước những dư địa phát triển rất lớn. Với phương pháp đúng đắn, tầm nhìn rõ ràng cùng sự chỉ đạo quyết liệt từ Trung ương đến địa phương, chúng ta hoàn toàn có thể tin tưởng vào sự đổi mới vượt trội.

LÊ THOA ghi

Đọc thêm