Người mẹ công nhân giành được quyền nuôi con

Luật Hôn nhân và Gia đình quy định khi ly hôn, con dưới 36 tháng tuổi phải giao cho mẹ, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Quy định này hoàn toàn hợp lý và được xã hội đồng tình. Bởi ở lứa tuổi này, trẻ rất cần sự chăm sóc trực tiếp của mẹ để phát triển. Và đương nhiên, quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con của người cha không vì vậy mà mất đi.

Tuy nhiên, có tòa án đã hiểu sai tinh thần của điều luật trên, khi xét xử lại chỉ so sánh công việc, thu nhập, hoàn cảnh của cha và mẹ với nhau rồi quyết định giao con cho người cha trong khi người mẹ vẫn hoàn toàn có đủ điều kiện nuôi dưỡng, chăm lo tốt cho con, chẳng hạn như vụ việc dưới đây.

Anh P. và chị Q. (cùng ngụ huyện Chợ Mới, An Giang) kết hôn năm 2012 và có một con chung là cháu A. Do bất đồng quan điểm, từ tháng 5-2014, chị Q. bồng con về nhà mẹ ruột sinh sống. Sau đó, anh P. nộp đơn ly hôn, yêu cầu được nuôi con. Chị Q. thuận tình ly hôn nhưng không đồng ý giao con cho anh P.

Tháng 1-2015, TAND huyện Chợ Mới xử sơ thẩm, nhận định: Từ khi hai người ly thân, cháu bé do chị Q. trực tiếp nuôi dưỡng. Đến thời điểm xét xử, cháu chưa đủ 36 tháng tuổi, lẽ ra cần phải giao cho mẹ. Tuy nhiên, chị Q. là phụ nữ sống xa nhà, không có chỗ ở ổn định. Bản thân chị Q. là công nhân làm việc trong khu công nghiệp, điều kiện và thời gian chăm sóc con không đảm bảo, có thể làm ảnh hưởng đến sự phát triển bình thường về thể chất và tinh thần của cháu A. Từ đó, tòa chấp nhận yêu cầu được quyền nuôi con của anh P.

Bản án sơ thẩm không nêu cụ thể hoàn cảnh, điều kiện của anh P. như thế nào, điều kiện chăm sóc, nuôi dưỡng tốt hơn chị Q. ra sao. Chị Q. kháng cáo. Trong thời gian chờ tòa xử phúc thẩm, anh P. cùng gia đình đã đến đưa cháu A. đi.

Tháng 6-2015, TAND tỉnh An Giang xử phúc thẩm đã bác kháng cáo của chị Q. Tòa này cho rằng anh P. có việc làm, thu nhập ổn định và theo xác nhận của địa phương, gia đình anh P. đủ điều kiện đảm bảo để chăm sóc, nuôi dưỡng cháu A. Tuy nhiên, tương tự bản án sơ thẩm, bản án phúc thẩm cũng không hề ghi rõ là anh P. làm gì, hoàn cảnh, điều kiện cụ thể như thế nào.

Tháng 12-2015, chánh án TAND Tối cao đã kháng nghị giám đốc thẩm vụ án này. Theo đó, chánh án đề nghị cấp giám đốc thẩm hủy một phần bản án phúc thẩm (về nội dung giao con cho cha), giao hồ sơ về cho TAND tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm lại.

Quyết định kháng nghị nhận định: Chị Q. hiện làm việc tại một công ty thủy sản. Công ty xác nhận mức lương của chị hơn 5 triệu đồng/tháng. Chị còn được công ty cấp nhà ở, hỗ trợ thêm chi phí điện, nước nhằm tạo điều kiện để chị nuôi con. Mặt khác, con của chị và anh P. là cháu gái, sống với mẹ từ nhỏ. Để ổn định tâm lý và giúp cháu được phát triển tốt về mọi mặt, lẽ ra các tòa sơ, phúc thẩm phải tiếp tục giao cháu A. cho mẹ mới đảm bảo được quyền lợi cho cháu và phù hợp với quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình.

Tháng 4-2016, TAND Cấp cao tại TP.HCM mở phiên họp giám đốc thẩm và ra quyết định chấp nhận toàn bộ kháng nghị nói trên.

Mới đây, TAND tỉnh An Giang đã mở lại phiên tòa phúc thẩm. Lần này anh P. vẫn không đồng ý giao con cho chị Q. Anh cho rằng các giấy tờ xác nhận của công ty chị Q. chỉ nhằm đối phó. Nơi ở của chị Q. bị nhiễm phóng xạ, do trước đây khu này là kho đạn trước năm 1975. Chị Q. nuôi cháu A. bị suy dinh dưỡng trầm trọng…

Nhận định lời khai của anh P. không có căn cứ, tòa phúc thẩm đã quyết định giao con cho chị Q. nuôi dưỡng. Bản án đồng thời cũng ghi nhận chị Q. phải tạo điều kiện cho anh P. thăm nom, chăm sóc, giáo dục con. Bản án này có hiệu lực pháp luật ngay.