Nhiều thách thức bảo hộ sở hữu trí tuệ trong kỷ nguyên AI

(PLO)- Sự bùng nổ của các Hiệp định thương mại tự do (FTA) thế hệ mới cùng làn sóng chuyển đổi số đang đặt tài sản trí tuệ vào vị trí lõi của nền kinh tế tri thức.

0:00 / 0:00
0:00
  • Nam miền Bắc
  • Nữ miền Bắc
  • Nữ miền Nam
  • Nam miền Nam

Đây là nhận định của các chuyên gia tại hội thảo “Bảo hộ sở hữu trí tuệ (SHTT) trong bối cảnh hội nhập quốc tế" do Tạp chí Sở hữu trí tuệ và Sáng tạo tổ chức vào chiều ngày 5-6 tại TP.HCM.

Theo các chuyên gia tham dự hội thảo, cùng với Nghị quyết 57 về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, vấn đề bảo hộ SHTT trở nên cấp thiết hơn. Dù vậy khoảng cách giữa quy định pháp lý, năng lực thực thi thực tế và nguồn nhân lực chuyên sâu vẫn đặt ra nhiều thách thức trong việc thực thi bảo hộ SHTT.

tri-tue.png
Các chuyên gia tham dự hội thảo. Ảnh: TRẦN LINH

Từ vùng xám AI đến làn sóng xâm phạm xuyên biên giới

Tại hội thảo, ông Trần Giang Khuê, Trưởng văn phòng đại diện Cục Sở hữu trí tuệ tại TP.HCM cho biết, tính đến ngày 30-5-2026, các lực lượng chức năng trên cả nước đã phát hiện 2.036 vụ việc có dấu hiệu xâm phạm, xử phạt hành chính 1.616 vụ, khởi tố hình sự 44 vụ và ngăn chặn hơn 1.000 website vi phạm.

Từ thực tiễn nghề nghiệp, Th.S Luật sư Vũ Duy Nam, Giám đốc Công ty Luật TNHH MTV Kim Ngọc cũng chỉ ra số lượng đơn khiếu nại liên quan đến vi phạm trực tuyến tăng khoảng 40% trong ba năm gần đây, tập trung nhiều nhất ở nhãn hiệu và quyền tác giả.

Các hành vi tinh vi diễn ra hàng ngày bao gồm việc sử dụng trái phép nhãn hiệu trên các sàn thương mại điện tử, nạn đầu cơ tên miền chứa nhãn hiệu của người khác nhằm trục lợi. Đặc biệt, là "nạn" sử dụng tác phẩm có bản quyền để huấn luyện các mô hình trí tuệ nhân tạo (AI) mà không được phép.

Tuy nhiên, theo LS Nam, vì đặc thù môi trường số là tính xuyên biên giới, ẩn danh cao, chứng cứ dễ bị xóa hoặc chỉnh sửa sau vài giờ, do đó việc tận dụng "giờ vàng" trong ứng phó vi phạm là rất quan trọng.

Luật sư Vũ Duy Nam khuyến nghị, trong trường hợp phát hiện vi phạm, doanh nghiệp không cần tranh cãi với bên vi phạm mà cần ứng phó ngay lập tức. Ông Nam chỉ ra ba giai đoạn cốt lõi gồm ghi nhận bảo toàn chứng cứ (lập vi bằng theo đúng quy định pháp luật), đánh giá lựa chọn biện pháp xử lý và thực thi theo dõi sau xử lý.

LS Nam cũng gợi ý, doanh nghiệp có thể tận dụng cơ chế gỡ bỏ nội dung của các nền tảng xuyên biên giới thông qua Đạo luật DMCA quốc tế, hoặc phối hợp áp dụng các biện pháp mạnh mẽ hơn. Thậm chí làm đơn tố giác tội phạm gửi Cơ quan Cảnh sát điều tra để đề nghị xem xét xử lý hình sự theo Điều 225 và Điều 226 Bộ luật Hình sự đối với các vi phạm có tính chất nghiêm trọng.

Về phía cơ quan chức năng, ông Khuê cũng cho rằng, cơ quan chức năng cần tiếp tục hoàn thiện thể chế, tăng cường ứng dụng công nghệ số, trí tuệ nhân tạo trong quản lý và thực thi quyền sở hữu trí tuệ là hết sức cần thiết.

Đồng thời, các bên phải đẩy mạnh phối hợp liên ngành và hợp tác quốc tế nhằm nâng cao hiệu quả bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ trong bối cảnh thương mại điện tử và hội nhập toàn cầu ngày càng sâu rộng.

Bảo hộ SHTT quan trọng nhưng thiếu nguồn lực thực thi

Tại hội thảo, các chuyên gia cũng chỉ ra một nghịch lý giữa nhu cầu bảo vệ tài sản trí tuệ và thực trạng nguồn nhân lực pháp lý SHTT.

Ths. Ls Phạm Bá Thiên, Giám đốc chương trình Luật Kinh tế, Trường Đại học Hoa Sen nhìn nhận, dù giảng viên và sinh viên đều nhận thức đúng về tính quan trọng của SHTT. Tuy nhiên thực tiễn giảng dạy tại các trường đại học cho thấy môn luật SHTT chưa thực sự thể hiện được vài trò quan trọng này.

Theo ông Thiên, nguyên nhân xuất phát từ giới hạn kỹ thuật trong thiết kế khung chương trình nhằm tuân thủ mức trần số tín chỉ của Bộ Giáo dục và Đào tạo. Điều này khiến các cơ sở đào tạo phải thu hẹp SHTT thành các học phần đơn lẻ để cạnh tranh quỹ tín chỉ với các học phần luật nền tảng khác.

Thêm vào đó, nhiều trường vẫn định vị SHTT là một nhánh kéo dài của Luật Dân sự mà chưa tiếp cận theo hướng liên ngành gắn liền với công nghệ và thương mại quốc tế. Hệ quả là tính đến năm 2026, Việt Nam chưa có ngành đào tạo chuyên môn độc lập cấp bằng Cử nhân Luật Sở hữu trí tuệ, khối kiến thức chuyên sâu bị đẩy lên bậc sau đại học hoặc các khóa bồi dưỡng nghiệp vụ ngắn hạn.

Điều này vô hình trung tạo ra một khoảng trống lớn về nhân lực thực hành chuyên sâu ở ngay lứa cử nhân mới tốt nghiệp và dẫn đến nghịch lý tại Điều 155 Luật SHTT sửa đổi bổ sung năm 2025: người hành nghề đại diện sở hữu công nghiệp trong lĩnh vực sáng chế hoặc kiểu dáng công nghiệp phải có bằng cấp thuộc khối khoa học tự nhiên hoặc kỹ thuật.

Nghịch lý này khiến sinh viên luật được đào tạo bài bản về tư duy pháp lý lại không đủ điều kiện chuyên môn kỹ thuật. Ngược lại, sinh viên khối kỹ thuật hiểu công nghệ nhưng lại thiếu nền tảng pháp lý cần thiết để hành nghề.

hoi-thao4-1345.png
Các chuyên gia chỉ ra nghịch lý dù nhu cầu SHTT rất nhiều song nguồn nhân lực lại chưa đáp ứng. Ảnh: TRẦN LINH

Kiến nghị giải pháp từ thực tiễn hội nhập

Để đưa SHTT và đổi mới sáng tạo thành động lực chính và phát triển kinh tế xã hội theo đúng tinh thần của các Nghị quyết của Đảng và Chính phủ ban hành, các chuyên gia cho rằng hệ thống đào tạo lẫn thực thi pháp lý cần có những bước chuyển dịch đột phá.

Về phía các cơ sở giáo dục, ông Phạm Bá Thiên đề xuất các trường đại học luật lớn không nhất thiết phải mở một ngành đào tạo hoàn toàn mới, mà cần học hỏi mô hình của các trường luật hàng đầu tại Hoa Kỳ như Đại học California, Berkeley hay Đại học Boston.

Cụ thể là tận dụng quỹ tín chỉ tự chọn để hình thành các định hướng chuyên sâu về Luật Công nghệ và SHTT, cấp cho sinh viên một “chứng chỉ phụ” đính kèm văn bằng cử nhân để thỏa mãn các yêu cầu trình độ khi đăng ký cấp chứng chỉ hành nghề chuyên môn.

Đồng thời, các trường đại học luật cần chủ động liên kết với các trường khối khoa học tự nhiên, kỹ thuật và công nghệ để thiết kế các chương trình đào tạo cử nhân song ngành hoặc liên ngành, giải quyết tận gốc bài toán thiếu hụt nhân lực chất lượng cao.

Về khía cạnh thực thi, Luật sư Vũ Duy Nam kiến nghị Luật SHTT cần được cập nhật liên tục để điều chỉnh kịp thời các hành vi vi phạm mới liên quan đến AI tạo sinh. Cạnh đó, cơ quan quản lý nhà nước cần ký kết thỏa thuận hợp tác với các nền tảng lớn như Google, Meta, TikTok, Shopee nhằm thiết lập đầu mối liên lạc trực tiếp, tăng cường tốc độ xử lý các hành vi xâm phạm xuyên biên giới.

Đừng bỏ lỡ

Video đang xem nhiều

Đọc thêm