Kỳ họp thứ nhất, Quốc hội (QH) khóa XVI sau 12 ngày làm việc khẩn trương, tích cực đã chính thức khép lại hôm 24-4 với hàng loạt quyết sách được thông qua góp phần quan trọng trong việc mở ra chặng đường phát triển mới của đất nước.
Đáng chú ý, từ Hội nghị quán triệt Nghị quyết Đại hội XIV đến kỳ họp này, yêu cầu xuyên suốt được Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nêu ra đó là pháp luật phải xuất phát từ thực tiễn, khắc phục tư duy “nặng quản lý, nhẹ kiến tạo”; không chỉ điều chỉnh cái đã có mà phải mở đường cho cái mới…
Trao đổi với báo Pháp Luật TP.HCM, đại biểu (ĐB) Hoàng Minh Hiếu, Ủy viên Ủy ban Pháp luật và Tư pháp của QH, chia sẻ đây chính là “kim chỉ nam” cho QH khóa XVI - một nhiệm kỳ được kỳ vọng sẽ thay đổi căn bản cách tiếp cận, để pháp luật thực sự trở thành lợi thế cạnh tranh quốc gia, thay vì chỉ là công cụ quản lý.
Hoàn thiện thể chế cho mục tiêu tăng trưởng
. Phóng viên: Thưa ông, khác với thông lệ, ngay từ kỳ họp thứ nhất, QH khóa XVI đã tiến hành công tác lập pháp song song với công tác nhân sự. Điều này thể hiện tinh thần của một nhiệm kỳ QH hành động như thế nào?
+ ĐB Hoàng Minh Hiếu: Kỳ họp thứ nhất của QH khóa XVI diễn ra trong một bối cảnh rất đặc biệt. Chỉ hơn hai tháng sau Đại hội XIV, QH đã bắt đầu kỳ họp đầu tiên và triển khai ngay nhiệm vụ thể chế hóa các chủ trương, đường lối của Đảng.
Điểm đặc biệt tiếp theo là kỳ họp này diễn ra trong bối cảnh tình hình kinh tế - chính trị quốc tế có nhiều biến động phức tạp, đặt ra yêu cầu phải có những quyết sách kịp thời để ổn định và phục hồi nền kinh tế. Trong khi đó, đây là kỳ họp đầu tiên của một nhiệm kỳ có sứ mệnh rất lớn, đặt nền tảng hoàn thiện thể chế cho mục tiêu tăng trưởng hai con số và hiện thực hóa hai mục tiêu 100 năm của đất nước.
Chính trong bối cảnh đó, việc QH đã bắt tay ngay vào công tác lập pháp tại kỳ họp thứ nhất với việc thông qua chín luật và 31 nghị quyết. Điều này đã phản ánh nhận thức rằng chúng ta phải có những hành động kịp thời, không thể chờ; nhiều vấn đề về thể chế kinh tế, tổ chức bộ máy, cũng như bảo đảm quyền và lợi ích của người dân, doanh nghiệp đang cần được tháo gỡ ngay. Mỗi sự chậm trễ đều có thể làm suy giảm động lực phát triển.
Ở góc độ sâu hơn, đây chính là biểu hiện cụ thể của tinh thần QH hành động. Hành động ở đây không chỉ là tăng về khối lượng công việc, mà là sự chuyển biến về phương thức, theo đó hoạt động lập pháp được thực hiện một cách chủ động hơn, không để bị động trước áp lực thời gian hay hoàn cảnh.
. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã yêu cầu đổi mới căn bản tư duy pháp luật theo hướng “kiến tạo phát triển”. Vậy QH khóa XVI sẽ thay đổi triết lý làm luật ra sao trong từng dự án luật?
+ Theo tôi, trong nhiệm kỳ này, QH phải chuyển mạnh từ tư duy “làm luật cho đủ” sang “làm luật để phát triển”. Ngay từ khâu xây dựng chương trình lập pháp, mỗi dự án luật đều phải được cân nhắc rất kỹ về sự cần thiết. Không phải cứ có vấn đề là ban hành luật mà phải tính đến chi phí tuân thủ, tác động tới môi trường đầu tư, kinh doanh. Tránh gia tăng số lượng văn bản nhưng lại vô tình tạo thêm rào cản cho phát triển.
Quy trình lập pháp cũng phải thực sự khoa học, dân chủ và minh bạch hơn. Một đạo luật tốt không chỉ đúng về mặt quản lý nhà nước mà còn phải đi được vào cuộc sống. Vì vậy, việc đánh giá tác động chính sách sẽ phải thực chất, trả lời được những câu hỏi rất cụ thể như quy định này có khơi thông nguồn lực hay không, có tạo thuận lợi cho doanh nghiệp và người dân hay không, có làm giảm chi phí tuân thủ hay không.
Đối với những vấn đề mới như kinh tế số, kinh tế xanh hay các mô hình kinh doanh mới, cần một cách tiếp cận linh hoạt và cởi mở hơn. QH sẽ chú trọng các cơ chế thí điểm có kiểm soát, các khung pháp lý thử nghiệm, vừa quản lý được rủi ro, vừa tạo không gian cho đổi mới sáng tạo…
Nâng cao vai trò thẩm tra của các ủy ban
. Để kiên quyết xóa bỏ tư duy “không quản được thì cấm”, giải phóng các nguồn lực xã hội, công tác thẩm tra các dự án luật tại nghị trường QH khóa mới cần những thay đổi đột phá nào?
+ Đây là câu hỏi chạm đúng vào một trong những điểm nghẽn lâu năm của hệ thống pháp luật nước ta. Tư duy “không quản được thì cấm” thực chất là biểu hiện của tâm lý phòng thủ trong hoạch đính chính sách, cơ quan soạn thảo lo ngại rủi ro cho mình hơn là lo ngại bỏ lỡ cơ hội phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Hệ quả là nhiều nguồn lực xã hội bị kìm hãm không phải vì nguy hiểm cho xã hội, mà vì chưa có tiền lệ quản lý.
Để xóa bỏ tư duy này, cách tiếp cận thẩm tra sẽ phải thay đổi về bản chất, không chỉ dừng ở việc xem xét tính hợp hiến, hợp pháp hay tính thống nhất của dự thảo luật, mà phải đi sâu đánh giá triết lý điều chỉnh của từng chính sách.
Lâu nay, trọng tâm thẩm tra thường xoay quanh tính khả thi trong quản lý nhà nước. Nay tư duy này cần thay đổi bằng những câu hỏi gai góc hơn: Quy định này có đang cấm hoặc hạn chế những gì đáng ra nên được phép không? Chi phí của sự cấm đoán này là bao nhiêu?...
Song song đó, để nâng cao thực chất vai trò phản biện độc lập trong quy trình thẩm tra, các ủy ban của QH cũng chủ động tổ chức lấy ý kiến trực tiếp từ doanh nghiệp, hiệp hội ngành nghề, người dân chịu tác động. Những tiếng nói từ thực tiễn này sẽ là một kênh phản biện rất quan trọng để phát hiện và loại bỏ các quy định mang tính cấm đoán không phù hợp, tạo rào cản không cần thiết.
Mặt khác, phải nâng cao hơn nữa yêu cầu về đánh giá tác động chính sách trong quá trình thẩm tra; gắn công tác thẩm tra với trách nhiệm giải trình và cơ chế giám sát sau ban hành. Khi mỗi quy định đều được theo dõi, đánh giá lại trong thực tiễn, các cơ quan tham gia xây dựng luật sẽ thận trọng hơn, hạn chế tối đa việc lựa chọn giải pháp an toàn là cấm đoán.
. Một điểm nghẽn khác là tình trạng “luật chờ nghị định”, làm chậm trễ việc đưa chủ trương vào cuộc sống. Quốc hội sẽ có những cải tiến đột phá nào trong quy trình làm luật để khắc phục triệt để tình trạng này, thưa ông?
+ Để khắc phục tình trạng “luật chờ nghị định” đang tồn tại, theo tôi ngay từ khâu xây dựng luật cần xác định rõ vấn đề gì thuộc phạm vi luật định, vấn đề gì thuộc phạm vi Chính phủ, các bộ quy định… Ví dụ, những vấn đề liên quan trực tiếp đến quyền, nghĩa vụ của người dân, điều kiện kinh doanh hay cơ chế vận hành thị trường phải được quy định ngay trong luật, thay vì “đẩy xuống” văn bản dưới luật.
Những nội dung giao cho Chính phủ quy định chi tiết phải là những vấn đề thực sự mang tính kỹ thuật, thường xuyên biến động, cần linh hoạt điều chỉnh. Vấn đề này, tại phiên khai mạc kỳ họp thứ nhất thứ nhất Quốc hội khoá XVI, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã nhấn mạnh phải “kiên quyết khắc phục tình trạng “luật bó”, chồng lấn, đẩy trách nhiệm cho văn bản dưới luật; phải làm sao để luật ban hành ra là đi được vào cuộc sống, người dân dễ hiểu, doanh nghiệp dễ thực hiện, cơ quan nhà nước dễ áp dụng”.
Đồng thời, phải gắn chặt quy trình xây dựng luật với quy trình chuẩn bị văn bản hướng dẫn thi hành. Khi trình dự án luật, cơ quan soạn thảo đồng thời phải chuẩn bị dự thảo nghị định, thậm chí là các văn bản liên quan để QH và các cơ quan thẩm tra có thể đánh giá tính đồng bộ, khả thi ngay từ đầu. Đây là cách nhiều nước đã làm để tránh độ trễ chính sách…
Cạnh đó, cần tăng cường hoạt động giám sát văn bản quy phạm pháp luật, siết chặt yêu cầu về tiến độ ban hành văn bản quy định chi tiết, gắn với trách nhiệm cụ thể của từng cơ quan. Trường hợp chậm ban hành hoặc ban hành không bảo đảm chất lượng thì phải có cơ chế giải trình, thậm chí xem xét trách nhiệm.
Xây dựng các vùng thử nghiệm pháp lý có kiểm soát
. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã nhấn mạnh “Luật không chỉ mở đường mà còn phải sửa đường”. Ông nhìn nhận như thế nào về vấn đề này?
+ Để pháp luật Việt Nam thực sự đi trước mở đường trong kỷ nguyên hướng tới hai mục tiêu 100 năm, trước hết, khi xây dựng pháp luật, chúng ta phải đặt câu hỏi những vấn đề đó trong 10-20 năm nữa sẽ vận động theo hướng nào và khung pháp lý nào sẽ phù hợp để giúp chúng ta đi trước thay vì phải đuổi theo.
Qua đó, sẽ định hình triết lý lập pháp phù hợp, xây dựng nên cơ sở để điều chỉnh theo từng khoảng thời gian cụ thể, giúp cho hệ thống pháp luật có tầm nhìn dài hạn, có tính ổn định và khả năng dự báo cao. Điều này đòi hỏi QH phải kết nối chặt chẽ hơn với cộng đồng nghiên cứu, dự báo chiến lược và các tổ chức tư vấn chính sách độc lập để công tác lập pháp được nuôi dưỡng bởi tầm nhìn dài hạn.
Kế đó là tăng cường xây dựng các khung pháp lý mở cho những lĩnh vực chưa định hình như kinh tế số, trí tuệ nhân tạo, kinh tế tuần hoàn, công nghệ sinh học. Đây là những lĩnh vực đang thay đổi quá nhanh để có thể lập pháp theo cách truyền thống.
Kinh nghiệm từ Anh, Singapore và nhiều nước khác cũng cho thấy giải pháp hiệu quả là xây dựng các vùng thử nghiệm pháp lý có kiểm soát, cho phép cái mới vận hành trong giới hạn được phép, thu thập dữ liệu thực tiễn, rồi từ đó hoàn thiện thành luật chính thức. Hiện Việt Nam đã bắt đầu làm điều này trong một số lĩnh vực nhưng cần nhân rộng mô hình này với cơ chế tổng kết và chuyển hóa thành luật nhanh hơn.
Ngoài ra, pháp luật phải kiến tạo lợi thế cạnh tranh có chủ đích. Trong cuộc đua thu hút đầu tư công nghệ cao toàn cầu, hệ thống pháp luật chính là yếu tố có tính cạnh tranh cao mà một quốc gia chào hàng với thế giới. Môi trường pháp lý thông thoáng, minh bạch, dự đoán được và thực thi nghiêm chỉnh chính là lợi thế cạnh tranh.
Chúng ta cần xây dựng một số lĩnh vực pháp luật đạt chuẩn quốc tế cao nhất, chẳng hạn trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ, giải quyết tranh chấp thương mại, bảo vệ nhà đầu tư… để Việt Nam trở thành điểm đến mà các tập đoàn công nghệ và nhà đầu tư chiến lược lựa chọn không phải vì chi phí rẻ.
Một vấn đề nữa là Việt Nam cần quan tâm đầu tư, xây dựng một nền lập pháp hiện đại, chuyên nghiệp, có tính kế thừa và tích lũy…
. Xin cảm ơn ông.
Đại biểu BÙI HOÀI SƠN, Ủy viên chuyên trách Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội:
Đừng ngồi phòng họp thiết kế luật cho đời sống
Trước yêu cầu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm về việc Quốc hội phải đổi mới mạnh mẽ, thực chất và hiệu quả hơn trong nhiệm kỳ này, thiết nghĩ điều cần thay đổi đầu tiên là khâu đặt câu hỏi khi xây dựng luật.
Trước đây, chúng ta thường hỏi “làm thế nào để quản?”, còn bây giờ phải hỏi thêm “làm thế nào để phát triển?”, “làm thế nào để giải phóng nguồn lực?”, “làm thế nào để người dân và doanh nghiệp có không gian sáng tạo nhưng vẫn trong khuôn khổ an toàn?”. Chỉ cần đổi câu hỏi đầu vào, triết lý của điều luật cũng sẽ khác. Một điều luật kiến tạo không bắt đầu từ nỗi lo mất kiểm soát, mà bắt đầu từ mục tiêu tạo ra giá trị mới cho xã hội.
Quy trình soạn thảo và thẩm tra cũng phải gắn chặt hơn với thực tiễn. Cần giảm tình trạng ngồi trong phòng họp thiết kế luật cho một đời sống năng động ngoài xã hội. Muốn bỏ tư duy “không quản được thì cấm”, cơ quan soạn thảo phải tăng khảo sát thực địa, tham vấn nhóm chịu tác động trực tiếp như doanh nghiệp, chuyên gia, địa phương…
Nhiều quy định tưởng chặt chẽ trên giấy nhưng lại làm nghẽn cả một lĩnh vực trong thực tế. Bởi vậy, thẩm tra không chỉ là xem câu chữ có đúng kỹ thuật mà phải xem điều luật đó có khả thi không, có tạo động lực hay vô tình dựng thêm rào cản không.
Quốc hội cũng cần thể chế hóa mạnh hơn các công cụ lập pháp hiện đại như cơ chế thí điểm có kiểm soát, đánh giá tác động chính sách thực chất, quy định rõ trách nhiệm giải trình, rà soát chồng chéo liên luật và đặc biệt là bắt buộc tư duy hợp nhất, đồng bộ trong hệ thống pháp luật.
Tôi cho rằng càng trong thời đại mới, càng phải tránh tình trạng một lĩnh vực chịu sự điều chỉnh của quá nhiều văn bản, nhiều tầng nấc, nhiều cơ quan, khiến người muốn làm thì lúng túng còn người thực thi thì sợ trách nhiệm. Kiến tạo không có nghĩa là buông lỏng. Kiến tạo là thiết kế luật đủ minh bạch để quản được nhưng cũng đủ thông thoáng để phát triển.
-----
Đại biểu Quốc hội HOÀNG MINH HIẾU:
Sự chuyển đổi từ chính đại biểu
Bước vào nhiệm kỳ hành động, cá nhân tôi cho rằng đại biểu QH phải tự nâng mình lên ngang tầm nhiệm vụ lập pháp, phải chuyển từ tư duy tham gia thảo luận mang tính phản biện đơn thuần sang tư duy đồng kiến tạo chính sách.
Làm luật trong kỷ nguyên số, kỷ nguyên kinh tế xanh, kinh tế tri thức đòi hỏi hiểu biết sâu về kinh tế, công nghệ, luật so sánh… chứ không thể chỉ dựa vào kinh nghiệm thực tiễn hay trực giác chính sách. Điều này đòi hỏi sự đầu tư sâu về tri thức, bám sát thực tiễn, hiểu rõ nhu cầu của người dân và doanh nghiệp, có khả năng phân tích chính sách trên cơ sở dữ liệu và bằng chứng.
Đại biểu QH phải thực sự là cầu nối giữa nghị trường và thực tiễn. Những vướng mắc, điểm nghẽn trong đời sống kinh tế - xã hội cần được phát hiện sớm, phản ánh kịp thời vào chương trình lập pháp.
Khi QH xác định rõ vai trò kiến tạo phát triển, thì mỗi quyết định thông qua hay không thông qua một chính sách đều phải được cân nhắc kỹ lưỡng về chi phí, lợi ích và tác động dài hạn. Điều này đòi hỏi đại biểu tích cực tham gia phát biểu, thể hiện ý kiến của mình. Những giải pháp chính sách phù hợp chỉ có thể đạt được từ những cuộc thảo luận chất lượng, với những lập luận sắc bén, có tính phản biện sâu sắc, có tính xây dựng, hướng về lợi ích quốc gia.
Ngoài ra, phải có trách nhiệm giải trình trước cử tri và tiếp thu những ý kiến góp ý, đánh giá của cử tri. Cử tri không cần biết đại biểu đã họp bao nhiêu ngày, đọc bao nhiêu tờ trình. Cử tri cần thấy sau nhiệm kỳ này, doanh nghiệp khởi nghiệp dễ hơn hay khó hơn, nhà đầu tư tin tưởng hơn hay không, người dân được sống trong một môi trường pháp lý công bằng và thông thoáng hơn hay không.
*****
Ý KIẾN
Ông VŨ ĐĂNG KHUÊ, Chủ tịch Tập đoàn BGroup kiêm Chủ tịch Hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa Bình Dương (TP.HCM):
“Đường cao tốc” cho doanh nghiệp bứt tốc
Việc từ bỏ tư duy “nặng về quản lý, nhẹ về kiến tạo” là một cuộc cách mạng về lập pháp. Trước đây, tư duy “không quản được thì cấm” vô tình biến pháp luật thành những rào chắn. Nay triết lý “luật mở đường” đưa pháp luật thành hệ thống đường cao tốc cho doanh nghiệp vận hành, là lời giải cho bài toán khơi thông nguồn lực.
Sự thay đổi này giúp xử lý ba rào cản lớn để tháo gỡ tâm lý và chi phí tuân thủ vô hình. Thứ nhất, xóa bỏ tâm lý “sợ sai” của cả hai phía. Luật rõ ràng, cán bộ thực thi không còn e dè khi ký duyệt và doanh nhân không còn phải lo ngại các quy định chồng chéo.
Thứ hai, luật kiến tạo sẽ giúp cắt giảm các thủ tục “xin-cho” không cần thiết, bảo vệ tính thời điểm của cơ hội kinh doanh. Thứ ba là giảm chi phí “bôi trơn”. Khi thể chế minh bạch, các kẽ hở tạo ra cơ chế cửa sau bị triệt tiêu, giúp doanh nghiệp tập trung nguồn lực vào đổi mới sáng tạo.
Tôi cho rằng việc chuyển từ tư duy quản lý sang kiến tạo là bước chuyển bản lề. Khi luật pháp mở đường, doanh nghiệp sẽ giảm đáng kể những chi phí tuân thủ vô hình. Một môi trường pháp lý minh bạch giúp doanh nghiệp tự tin mở rộng sản xuất, đầu tư dài hạn và chuyển từ phòng thủ sang tăng trưởng chủ động.
Trong kỷ nguyên mới, “tốc độ thể chế” mới là vũ khí cạnh tranh. Quốc gia nào ban hành được khung pháp lý an toàn, thuận lợi và nhanh chóng nhất sẽ thu hút được những “sếu đầu đàn”.
Bước đột phá này giúp nhà đầu tư tăng thêm các chi phí cơ hội. Đó là chi phí thời gian gia nhập thị trường, giúp dự án trên giấy thành nhà máy trong thời gian ngắn nhất; chi phí tái cấu trúc do thay đổi chính sách, giúp nhà đầu tư yên tâm hoạch định chiến lược dài hạn và chi phí niềm tin để bứt tốc.
Đặc biệt, ở góc độ nhà đầu tư, cải cách thể chế không chỉ giảm chi phí mà còn tăng tốc độ phát triển. Nếu luật đi trước, rõ ràng và ổn định, dòng vốn sẽ được giải phóng nhanh hơn, dự án triển khai đúng nhịp thị trường, tạo ra hiệu quả lan tỏa cho toàn bộ nền kinh tế.
-----
Luật sư ĐỖ NGỌC ANH, Giám đốc Công ty Luật Bến Thành, Phó Viện trưởng Viện Khoa học pháp lý và phát triển doanh nghiệp (ILC):
Sẽ không còn tình trạng “luật chờ nghị định”
Sự thay đổi sang tư duy lập pháp kiến tạo là cuộc cách mạng nhằm tháo gỡ rủi ro pháp lý tiềm ẩn, đồng thời thiết lập vành đai an toàn để cộng đồng doanh nghiệp tự tin dồn lực đầu tư.
Lập pháp kiến tạo giúp tháo gỡ ba rủi ro đang kìm hãm doanh nghiệp. Trước hết là ngăn chặn tư duy “không quản được thì cấm”, tạo điều kiện cho thử nghiệm đổi mới sáng tạo. Kế đến là giải quyết rủi ro từ sự chồng chéo trong các văn bản pháp lý vốn đang tạo ra “rừng” quy định rối rắm. Tư duy mới mang đến yêu cầu pháp luật cởi mở và phải đi trước để định hướng, dẫn dắt.
Cuối cùng, khi pháp luật minh thị và chuyển từ “tiền kiểm” sang “hậu kiểm” sẽ loại bỏ tâm lý sợ hãi, trì trệ cũng như áp lực lên cán bộ thực thi chính sách.
Bên cạnh tháo gỡ khó khăn, cuộc cách mạng này còn tạo tấm khiên bảo vệ cho doanh nghiệp. Cơ chế này cho phép miễn trừ hậu quả nếu doanh nghiệp đã nỗ lực hết sức nhưng điều kiện khách quan khiến kết quả không như mong muốn, đặc biệt là trong lĩnh vực đổi mới sáng tạo. Việc cắt giảm thực chất các thủ tục hành chính không cần thiết còn giúp minh bạch hóa và giảm thiểu chi phí ẩn…
Một bước đột phá lập pháp quan trọng khác là thể chế hóa đồng bộ, ban hành luật kèm văn bản hướng dẫn chi tiết để áp dụng ngay, chấm dứt tình trạng “luật chờ nghị định”. Việc này giúp loại bỏ văn hóa bôi trơn, tiết kiệm ít nhất 50% thời gian và chi phí tuân thủ, giúp doanh nghiệp tránh rủi ro phải tạm dừng hoạt động do mâu thuẫn giữa luật cũ và luật mới.
Nhờ các quy định đi ngay vào thực tiễn, doanh nghiệp có thể chớp thời cơ đầu tư trong lĩnh vực chuyển đổi số hay kinh tế xanh. Đột phá thể chế còn khơi thông các dự án đình trệ, giúp doanh nghiệp tư nhân dễ dàng tiếp cận vốn và nâng cao năng lực cạnh tranh.
Chính phủ đang thay đổi tư duy, tập trung rà soát và cắt giảm điều kiện kinh doanh không cần thiết để chuyển sang kiến tạo phát triển. Bên cạnh cải thiện chỉ số minh bạch, việc tháo gỡ đồng bộ các điểm nghẽn pháp luật còn tạo niềm tin cho nhà đầu tư quốc tế, nâng cao uy tín và vị thế của Việt Nam trong tiến trình hội nhập toàn cầu.
QUANG HUY ghi