Theo ông Ngô Thanh Hùng, Phó Trưởng Thi hành án, hiện nay toàn thành phố còn 17 vụ việc có khiếu nại do thi hành án tồn đọng, kéo dài do một số nguyên nhân khách quan: không có kinh phí vì quy định hiện hành chỉ áp dụng hỗ trợ tài chính đối với những bản án, quyết định đã có hiệu lực sau ngày 1-7-2004; bản án chưa rõ ràng nên phải chờ giải thích bản án hoặc chỉ đạo của các cơ quan liên ngành; phải chờ kết quả xét xử các vụ việc có liên quan...
Đại diện cơ quan Thi hành án dân sự TP.HCM cũng nêu vướng mắc là từ khi Luật Thi hành án dân sự có hiệu lực, Bộ Tư pháp và Cục Thi hành án dân sự chưa có hướng dẫn cụ thể việc xác định các văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến thi hành án đã hết hiệu lực và văn bản nào tiếp tục được áp dụng sau ngày 1-7. Ngoài ra, việc thiếu nghị định chi tiết thi hành luật cũng khiến cơ quan thi hành án gặp khó khăn trong quá trình thực hiện cơ chế định giá tài sản, xác định trách nhiệm cung cấp thông tin về tài sản và điều kiện thi hành án.
Phản hồi của bạn đọc:
Họ tên: Vuong Chi Binh
Địa chỉ: An Duong Vuong, Quận 5, TP. HCM
Nội dung:
Luật Thi hành án được ban hành và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2009. Tiếp theo đó, ngày 13/7/2009 Chính phủ cũng đã ban hành Nghị định 58/2009/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thi hành án về thủ tục thi hành án dân sự.
Một trong những điểm mới trong Luật Thi hành án và Nghị định hướng dẫn thi hành đó là quy định về việc người được thi hành án tự mình hoặc ủy quyền cho người khác thực hiện xác minh điều kiện thi hành án.
Người được thi hành án chỉ được yêu cầu Chấp hành viên tiến hành xác minh điều kiện thi hành án nếu đã áp dụng các biện pháp cần thiết mà không tự xác minh được điều kiện thi hành án của người phải thi hành án.
Việc yêu cầu này phải được lập thành văn bản và phải xuất trình các tài liệu hoặc biên bản làm việc để chứng minh việc đã tiến hành xác minh tại các cơ quan, tổ chức, cá nhân đang nắm giữ các thông tin về tài sản, đang quản lý tài sản, tài khoản của người phải thi hành án nhưng không có kết quả.
Quy định nêu trên có ưu điểm là tạo sự chủ động cũng như giao trách nhiệm cho người được thi hành án trong việc tìm kiếm, truy tìm thông tin về khả năng, điều kiện thi hành án của người phải thi hành án; đồng thời cũng giúp giảm bớt công việc và trách nhiệm cho Chấp hành viên.
Tuy nhiên, trong thực tế không phải ai cũng có điều kiện để tự mình thực hiện việc xác minh, truy tìm thông tin, tài sản của người phải thi hành án ví dụ những người già yếu, bệnh tật…., đặc biệt việc tiến hành xác minh, truy tìm tài sản không phải là việc làm đơn giản và phải tốn nhiều thời gian công sức. Hơn nữa, không phải trường hợp nào cũng có thể tìm được các tổ chức, cơ quan, cá nhân để gửi văn bản hoặc yêu cầu trực tiếp cung cấp thông tin về tài sản, quản lý tài sản, tài khoản của người phải thi hành án.
Do đó, việc bắt buộc phải xuất trình các tài liệu hoặc biên bản làm việc để chứng minh việc đã tiến hành xác minh là không phù hợp trong một số trường hợp.
Từ vấn đề nêu trên, nhận thấy nên bổ sung quy định: cho một số trường hợp không phải xuất trình các tài liệu hoặc biên bản làm việc để chứng minh việc đã tiến hành xác minh điều kiện thi hành án khi yêu cầu Chấp hành viên xác minh điều kiện thi hành án, đó là trường hợp người được thi hành án là người già yếu, bệnh tật hoặc có cơ sở chứng minh rằng mình hoàn toàn không thể tìm được tổ chức, cơ quan, cá nhân nào đang nắm giữ thông tin về tài sản, quản lý tài sản, tài khoản của người phải thi hành án. Về thủ tục cho các trường hợp này thì Chấp hành viên có thể yêu cầu người được thi hành án làm cam kết và có thể thu phí thực hiện xác minh điều kiện thi hành án.
TIẾN HIỂU