Bài toán Net Zero: Tài chính xanh và thị trường carbon mở lối cho dòng vốn trăm tỉ USD

(PLO)- Trước áp lực vốn khổng lồ cho cam kết Net Zero, việc phát triển tài chính xanh và thị trường carbon không chỉ là xu thế, mà là "lối mở" bắt buộc để Việt Nam thu hút đầu tư dài hạn.

0:00 / 0:00
0:00
  • Nam miền Bắc
  • Nữ miền Bắc
  • Nữ miền Nam
  • Nam miền Nam

Ngày 16-1-2026, Viện Nghiên cứu phát triển TP.HCM và Trung tâm Tài chính quốc tế Việt Nam tại TP.HCM (VIFC-HCMC) đã tổ chức Hội thảo “Thúc đẩy tài chính xanh và sàn giao dịch tín chỉ carbon tại Trung tâm Tài chính quốc tế TP.HCM”.

Tại đây, các chuyên gia đều nhìn nhận mục tiêu mà Việt Nam đã cam kết sẽ đạt phát thải ròng bằng “0” vào năm 2050 là vô cùng thách thức, trong khi khung pháp lý cho tài chính xanh hiện mới ở giai đoạn đang dần hoàn thiện.

Vì sao Việt Nam phải trông cậy vào tài chính xanh và tín chỉ carbon?

Theo Báo cáo Khí hậu và Phát triển Quốc gia của Nhóm Ngân hàng Thế giới, từ nay đến năm 2040, Việt Nam cần bổ sung khoảng 368 tỉ USD cho các khoản đầu tư liên quan đến khí hậu, tương đương 6,8% GDP mỗi năm. Quy mô này vượt xa khả năng đáp ứng của ngân sách nhà nước, buộc Việt Nam phải tìm kiếm các nguồn lực mới từ khu vực tư nhân.

Ông Shehryar Ali Shah, Trưởng Văn phòng IFC tại TP.HCM cho rằng: “Bên cạnh cơ hội, quá trình phát triển tài chính xanh tại Việt Nam vẫn đối mặt với nhiều thách thức mang tính cấu trúc. Chi phí phát hành trái phiếu xanh hiện còn cao, trong khi nguồn vốn dài hạn trong nước vẫn hạn chế khiến khả năng mở rộng quy mô thị trường gặp nhiều rào cản. Thị trường các công cụ phòng ngừa rủi ro và phái sinh chưa phát triển đầy đủ, làm gia tăng rủi ro cho nhà đầu tư và các tổ chức phát hành.

Ngoài ra, những điểm nghẽn về hạ tầng, đặc biệt là hạ tầng truyền tải điện tiếp tục kìm hãm dòng vốn vào các dự án năng lượng xanh. Cùng với đó, Việt Nam vẫn thiếu các công cụ đánh giá rủi ro khí hậu một cách hệ thống, chuẩn hóa và có khả năng tích hợp vào hoạt động tín dụng, đầu tư và giám sát tài chính”.

“Trong bối cảnh đó, tài chính xanh nổi lên như một đòn bẩy then chốt để huy động dòng vốn dài hạn, cả trong nước và quốc tế. Dư địa phát triển đang mở rộng khi nhu cầu đầu tư toàn cầu vào tài sản xanh và bền vững gia tăng. Việt Nam tiến tới ban hành hệ thống phân loại xanh quốc gia; các ngân hàng chủ động hơn trong tích hợp tiêu chí ESG. Khả năng phát hành trái phiếu bền vững bằng ngoại tệ được cải thiện, cùng với tiềm năng lớn từ danh mục năng lượng tái tạo và hạ tầng bền vững” - ông Shehryar nhấn mạnh.

Bên cạnh đó, sàn giao dịch tín chỉ carbon đang là hướng đi mới nhằm thu hút dòng tài chính xanh cho đầu tư phát triển bền vững.

Nhận định về sự hình thành và phát triển của thị trường carbon Việt Nam, ông Nguyễn Quốc Dũng, Phó Tổng Giám đốc Sàn giao dịch tín chỉ carbon ASEAN – CCTPA (Tập đoàn CT Group) cho biết thị trường carbon tự nguyện trong nước đã đạt những bước tiến đáng kể. Tính đến hết tháng 8-2025, Việt Nam đã phát hành hơn 30 triệu tín chỉ carbon từ 158 dự án, cho thấy nguồn cung tín chỉ ngày càng mở rộng và đa dạng.

Nhìn từ phía cầu, nhu cầu bù đắp phát thải đang gia tăng rõ rệt. Riêng ngành hàng không Việt Nam được ước tính cần khoảng 2,3 triệu tín chỉ carbon mỗi năm để đáp ứng các yêu cầu trung hòa phát thải.

Bên cạnh đó, việc Cơ chế Điều chỉnh Biên giới Carbon (CBAM) của Liên minh châu Âu chính thức áp dụng từ đầu năm nay đã tạo ra các nghĩa vụ tài chính và nghĩa vụ báo cáo phát thải ngày càng khắt khe đối với doanh nghiệp Việt Nam xuất khẩu sang EU, qua đó đẩy nhanh nhu cầu tiếp cận và sử dụng tín chỉ carbon một cách bài bản.

Đáng chú ý, Việt Nam đã chính thức bước vào giai đoạn thí điểm hệ thống giao dịch phát thải (ETS) giai đoạn 2025–2029, tập trung vào các ngành phát thải lớn như điện than, thép và xi măng – nhóm lĩnh vực chiếm khoảng 50% tổng lượng phát thải CO₂.

Mục tiêu vận hành sàn giao dịch carbon quốc gia từ năm 2028 không chỉ cho thấy quyết tâm chính sách mà còn khẳng định Việt Nam đang từng bước hội nhập vào xu thế chung của thị trường carbon toàn cầu. Điều này đặt nền móng cho việc phát triển các công cụ tài chính carbon trong nước theo hướng chuẩn hóa, minh bạch và có kiểm soát.

tai-chinh-xanh.jpg
Thúc đẩy tăng trưởng tài chính xanh đang trở thành yêu cầu cấp thiết nhằm đáp ứng nhu cầu vốn lớn cho chuyển đổi xanh và phát triển bền vững. Ảnh: T.L

Áp lực vốn lớn, lối mở từ tài chính xanh và thị trường carbon

Để hiện thực hóa mục tiêu phát thải ròng bằng “0”, các chuyên gia đều cho rằng Việt Nam cần nguồn vốn khổng lồ cho quá trình chuyển đổi xanh, đặc biệt là chuyển đổi năng lượng.

Theo các ước tính của World Bank, nhu cầu vốn cho chuyển đổi năng lượng của Việt Nam có thể lên tới khoảng 135 tỉ USD vào năm 2030 và từ 364 đến hơn 500 tỉ USD vào năm 2050.

Trong bối cảnh đó, Trung tâm Tài chính quốc tế (IFC) Việt Nam tại TP.HCM được kỳ vọng đóng vai trò là một “hub” tài chính xanh, nơi kết nối, dẫn dắt và thu hút các dòng vốn xanh trong nước và quốc tế.

Tuy nhiên, bà Nguyễn Trúc Vân, Giám đốc Trung tâm Mô phỏng và Dự báo kinh tế - xã hội TP.HCM cũng thừa nhận thị trường tài chính xanh của Việt Nam hiện nay mới ở giai đoạn khởi đầu, với nhiều rào cản như khung pháp lý trái phiếu xanh chưa hoàn thiện, ưu đãi thuế phí còn hạn chế và thiếu hụt nhân lực chuyên sâu.

Đề cập tới các giải pháp thúc đẩy phát triển tài chính xanh, bà Vân cho rằng trước hết cần sớm hoàn thiện khung khổ pháp lý mang tính đặc thù cho Trung tâm, trong đó xây dựng hệ thống phân loại xanh riêng làm cơ sở thống nhất cho việc xác định, thẩm định và ưu tiên các hoạt động xanh. Cùng với đó là việc ban hành các cơ chế ưu đãi về thuế, phí và cải cách thủ tục theo hướng đơn giản, minh bạch nhằm khuyến khích phát hành trái phiếu xanh và các công cụ tài chính bền vững.

Ở cấp độ thị trường, bà Vân nhấn mạnh sự cần thiết phải hình thành sàn giao dịch tín chỉ carbon, ứng dụng công nghệ blockchain trong đăng ký, theo dõi và quản lý tín chỉ nhằm bảo đảm tính minh bạch, tránh trùng lặp và gian lận. Đồng thời, cần phát triển các nền tảng dữ liệu cho dự án xanh, đẩy mạnh ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong đo lường phát thải và báo cáo ESG, qua đó tạo nền tảng cho hệ sinh thái fintech và khởi nghiệp xanh phát triển.

“Bên cạnh đó, việc xây dựng thị trường trái phiếu xanh, quỹ đầu tư xanh và các quỹ ETF xanh cần được thúc đẩy song hành, gắn với lộ trình thí điểm token hóa trái phiếu và tài sản xanh trên nền tảng số, đi kèm cơ chế giám sát chặt chẽ nhằm kiểm soát rủi ro. Cần đặc biệt chú trọng phát triển nguồn nhân lực tài chính xanh thông qua đào tạo chuyên sâu và tăng cường hợp tác quốc tế, từng bước hình thành trung tâm đào tạo tài chính xanh của khu vực”, bà Vân nhấn mạnh.

Đến cuối năm 2025, dư nợ tín dụng xanh trên toàn hệ thống ngành ngân hàng đạt trên 750.000 tỉ đồng, tăng 10,3% so với cuối năm 2024.

Trong khi đó, để thúc đẩy phát triển thị trường tín chỉ carbon mới ở giai đoạn đầu như tại Việt Nam, đại diện quỹ VinaCapital đề xuất 5 giải pháp.

Thứ nhất là trao quyền tự chủ cho địa phương, cho phép giao dịch tín chỉ carbon quốc tế trong hạn mức nhất định mà không cần phê duyệt trung ương.

Thứ hai, quy định quyền sở hữu tín chỉ carbon gắn với nguồn vốn đầu tư (phân biệt rõ phần đầu tư thuộc khu vực tư nhân và phần có nguồn gốc ngân sách).

Thứ ba, TP cần chủ động sử dụng nguồn thu từ carbon cho các chương trình khí hậu, phát triển kinh tế xanh, chuyển đổi số và kinh tế tuần hoàn. Việc này giúp hình thành một vòng quay tài chính khép kín, trong đó carbon không chỉ là công cụ tuân thủ mà trở thành nguồn lực tái đầu tư cho tăng trưởng bền vững của đô thị.

Thứ tư, đề xuất công nhận các tiêu chuẩn quốc tế tạo tín chỉ carbon như GS hay Verra, tương tự mô hình Singapore và Ghana. Đây là bước nhanh chóng kết nối thị trường trong nước với thị trường carbon toàn cầu.

Thứ năm, cần lập sàn giao dịch tín chỉ carbon chuyên biệt, giao dịch minh bạch với cơ chế đo lường, báo cáo và xác minh trên nền tảng MRV chuẩn hóa và ứng dụng blockchain để số hóa tín chỉ. Điều này không chỉ giúp hạn chế rủi ro trùng lặp mà còn đặt nền móng cho quá trình tài chính hóa tín chỉ carbon trong tương lai, từ giao dịch giao ngay đến các sản phẩm phái sinh.

Đừng bỏ lỡ

Video đang xem nhiều

Đọc thêm