Căn cứ pháp lý để kết tội bị bãi bỏ, cựu hiệu trưởng ở Hà Nội sẽ trắng án?

Căn cứ pháp lý để kết tội bị bãi bỏ, cựu hiệu trưởng ở Hà Nội sẽ trắng án?

(PLO)- Quyết định 22/2013 của UBND TP Hà Nội bị bãi bỏ, đồng nghĩa với căn cứ pháp lý quan trọng để kết tội cựu nữ hiệu trưởng không còn. Vậy khả năng pháp lý sắp tới của vụ án này sẽ ra sao?

Mới đây, ngày 5-5, UBND TP Hà Nội đã có quyết định bãi bỏ toàn bộ Quyết định 22/2013 của UBND TP Hà Nội về dạy thêm, học thêm trên địa bàn.

Quyết định 22/2013 là căn cứ quan trọng mà TAND khu vực 1 - Hà Nội dùng để kết tội cựu nữ hiệu trưởng Trường THCS Ba Đình Nguyễn Thị Bình hồi tháng 3-2026. Bà Bình bị tòa này xử phạt 3 năm tù, cựu kế toán trưởng trường này - bị cáo Phạm Thị Minh Nguyệt bị phạt 24 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, cùng về tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ.

Nay quyết định nói trên bị bãi bỏ, vậy các khả năng pháp lý sắp tới của vụ án này ra sao? Pháp Luật TP.HCM xin giới thiệu ý kiến các chuyên gia về vấn đề này.

7-chinh.jpg
Cựu hiệu trưởng Nguyễn Thị Bình tại phiên tòa sơ thẩm. Ảnh: BÙI TRANG

ThS NGUYỄN THỊ THÙY DUNG, giảng viên khoa Luật hình sự Trường ĐH Luật TP.HCM:

Các khả năng tố tụng ở cấp phúc thẩm

ThS _Dung.jpg
ThS Nguyễn Thị Thùy Dung, Trường ĐH Luật TP.HCM.

Trong vụ án của bị cáo Bình, cáo buộc “lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ” theo Điều 356 BLHS được đặt trên nền tảng cho rằng bị cáo đã thu tiền dạy thêm vượt mức trần quy định tại Quyết định 22/2013 của UBND TP Hà Nội. Tuy nhiên, khi chính quy định này bị Bộ Tư pháp xác định là có nội dung trái luật, vấn đề đặt ra không chỉ dừng ở vi phạm thủ tục hành chính mà còn liên quan trực tiếp đến tính hợp pháp của căn cứ buộc tội.

Ở góc độ lý luận hình sự, cơ sở xác định tội phạm sẽ bị lung lay đáng kể nếu hành vi bị cho là “trái công vụ” lại được đánh giá dựa trên một chuẩn mực quản lý không hợp pháp. Nói cách khác, khi “chuẩn mực bị vi phạm” mất đi tính hợp pháp thì yếu tố “làm trái quy định” - vốn là hạt nhân cấu thành của tội danh - cũng bị ảnh hưởng đáng kể.

Dù vậy, cần lưu ý việc một văn bản bị bãi bỏ không đồng nghĩa đương nhiên làm mất hiệu lực mọi bản án đã tuyên. Cấp phúc thẩm sẽ phải xem xét bản chất của việc bãi bỏ văn bản này.

Nếu văn bản chỉ bị thay thế do thay đổi chính sách quản lý thì chưa chắc ảnh hưởng đến trách nhiệm hình sự của bị cáo tại thời điểm thực hiện hành vi. Nhưng nếu văn bản bị xác định ban hành trái thẩm quyền, trái luật hoặc ngay từ đầu không có giá trị áp dụng hợp pháp thì đây có thể là tình tiết làm thay đổi căn bản việc đánh giá tính trái pháp luật và tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi.

Về hướng xử lý, trong phạm vi thẩm quyền theo quy định của BLTTHS, cấp phúc thẩm có thể cân nhắc nhiều khả năng.

Thứ nhất, HĐXX phúc thẩm có thể hủy án để điều tra, xét xử lại nếu thấy cần làm rõ hiệu lực pháp lý của Quyết định 22/2013, đánh giá lại thiệt hại, xác định lại có hay không yếu tố vụ lợi, động cơ cá nhân hoặc hậu quả thực tế của hành vi. Đây là khả năng khá thực tế nếu hồ sơ vụ án vẫn còn nhiều tranh cãi về chứng cứ và căn cứ pháp lý.

Thứ hai, cấp phúc thẩm có thể sửa án theo hướng tuyên bị cáo không phạm tội nếu thấy hành vi không còn đủ yếu tố cấu thành tội phạm, đặc biệt khi căn cứ được cho là bị vi phạm không còn bảo đảm tính hợp pháp, thiệt hại chưa được xác định rõ hoặc bản chất vụ việc chỉ là sai phạm hành chính - tài chính trong quản lý giáo dục.

Ngoài ra, khả năng đình chỉ vụ án chỉ được đặt ra khi có căn cứ xác định hành vi không cấu thành tội phạm hoặc xuất hiện căn cứ miễn trách nhiệm hình sự theo luật định. Tuy nhiên, trên thực tế tố tụng, cấp phúc thẩm thường thiên về hướng hủy án để điều tra lại hơn là đình chỉ ngay, nhất là trong các vụ án còn tồn tại tranh cãi lớn về chứng cứ và căn cứ pháp lý.

Luật sư LÊ VĂN HOAN, Đoàn Luật sư TP.HCM:

Có thể đình chỉ nếu không có căn cứ buộc tội mới

ls-le-van-hoan-2-5211-6527.jpeg (1).jpg
Luật sư Lê Văn Hoan, Đoàn Luật sư TP.HCM.

Theo quy định tại Điều 330 BLTTHS (tính chất của xét xử phúc thẩm), trong bối cảnh bị cáo kháng cáo, TAND TP Hà Nội sẽ là đơn vị chịu trách nhiệm thực hiện quy trình này nhằm đảm bảo tính khách quan và thượng tôn pháp luật.

Trước đó, cấp sơ thẩm đã buộc tội bà Bình về hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ khi cho rằng bị cáo đã có sai phạm trong việc thu tiền dạy thêm, học thêm với mức phí cao hơn mới tối đa theo quy định.

Căn cứ chính mà cấp sơ thẩm sử dụng để định tội chính là Quyết định 22/2013 của UBND TP Hà Nội và Hướng dẫn 5898 của Sở GD&ĐT TP Hà Nội. Đây được xem là các văn bản pháp lý nền tảng để xác định ranh giới giữa đúng và sai, giữa thực thi công vụ và vi phạm pháp luật trong hoạt động giáo dục tại địa phương.

Tuy nhiên, tính hợp pháp của chính các văn bản căn cứ lại không đảm bảo, thậm chí là trái luật theo kết luận của Bộ Tư pháp.

Việc buộc tội bị cáo dựa trên một văn bản trái pháp luật không đảm bảo pháp lý và có dấu hiệu oan khá rõ.

Áp dụng nguyên tắc suy đoán vô tội và yêu cầu về tính chính xác của căn cứ pháp lý luôn được đặt lên hàng đầu. Nếu căn cứ để cấp sơ thẩm buộc tội bị xác định là trái luật thì về mặt logic pháp lý, hành vi của bị cáo không thể bị coi là tội phạm dựa trên những quy định đó.

Nếu cơ quan tiến hành tố tụng không thể đưa ra được các bằng chứng xác thực về những vi phạm khác ngoài hành vi mà cấp sơ thẩm đã kết tội bị cáo thì cấp phúc thẩm cần phải xem xét theo hướng bị cáo không có tội.

Căn cứ Điều 359 BLTTHS, cấp phúc thẩm có thẩm quyền xem xét theo hướng hủy bản án sơ thẩm, đồng thời đình chỉ vụ án vì hành vi của bị cáo không cấu thành tội phạm.

Luật sư NGUYỄN THÀNH CÔNG, Đoàn Luật sư TP.HCM:

Bà Bình thu tiền là không sai nếu đã thỏa thuận với phụ huynh

LS-Nguyen- Thanh-Cong.jpg
Luật sư Nguyễn Thành Công, Đoàn Luật sư TP.HCM.

Theo Cục Kiểm tra văn bản và Tổ chức thi hành pháp luật (Bộ Tư pháp), Quyết định 22/2013 của UBND TP Hà Nội và Hướng dẫn 5898 năm 2013 của Sở GD&ĐT TP Hà Nội là trái quy định tại Thông tư 17/2012 của Bộ GD&ĐT. Tức thời điểm đó việc thu phí học thêm, dạy thêm tùy vào sự thỏa thuận của cha mẹ học sinh với nhà trường. Vì vậy, việc thu tiền của bà Bình, bà Nguyệt nếu đã có sự thỏa thuận giữa nhà trường và phụ huynh thì không sai, đây là điểm mấu chốt của vụ án này. Có nghĩa hành vi của bà Bình, bà Nguyệt không cấu thành tội phạm.

Điểm đặc biệt của vụ án này là khi thực hiện truy cứu trách nhiệm hình sự bà Bình, bà Nguyệt, các cơ quan tiến hành tố tụng căn cứ vào quy định ngành là Quyết định 22/2013 của UBND TP Hà Nội và Hướng dẫn 5898 năm 2013 của Sở GD&ĐT TP Hà Nội khi các văn bản này đang có hiệu lực nên họ không sai phạm.

Nay qua sự phát hiện của Cục Kiểm tra văn bản, Bộ Tư pháp, căn cứ pháp lý chính để buộc tội đã không còn. Vì vậy thuộc trường hợp không có sự việc phạm tội hoặc hành vi không cấu thành tội phạm theo khoản 1, 2 Điều 157 BLTTHS.

Đây cũng là căn cứ mà cấp phúc thẩm được quyền hủy bản án sơ thẩm và đình chỉ vụ án theo Điều 359 BLTTHS, theo đó tuyên bị cáo không có tội và đình chỉ vụ án.

Luật sư HOÀNG HÀ, Đoàn Luật sư TP.HCM:

Trong vụ án của cựu Hiệu trưởng Nguyễn Thị Bình, vấn đề cốt lõi là xung đột pháp lý giữa hai văn bản cùng điều chỉnh mức thu tiền dạy thêm.

3349447150559121674.jpg
Luật sư Hoàng Hà.

Một là Thông tư 17/2012 của Bộ GD&ĐT quy định mức thu dựa trên nguyên tắc thỏa thuận giữa cha mẹ học sinh và nhà trường. Hai là Quyết định 22/2013 của UBND TP Hà Nội ấn định lại "giá trần" với tiền thu dạy thêm.

Chính vì thế, vụ án này cho thấy vấn đề nghiêm trọng trong hoạt động ban hành và áp dụng pháp luật tại địa phương.

Kết luận của Bộ Tư pháp nêu rõ Quyết định 22/2013 (một trong những căn cứ kết tội bà Bình) có nội dung trái pháp luật, đã đặt ra nghi ngờ về tính thuyết phục và đúng đắn của bản án sơ thẩm.

Theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật, thì Thông tư của Bộ trưởng có giá trị pháp lý cao hơn Quyết định của UBND cấp tỉnh. Do đó, việc cơ quan tố tụng áp dụng Quyết định của UBND cấp tỉnh thay vì Thông tư của Bộ trưởng là vi phạm nghiêm trọng nguyên tắc áp dụng pháp luật.

Hành vi của cô Bình nếu đối chiếu với Thông tư 17/2012, sẽ được xem xét ở khía cạnh thỏa thuận đó có tự nguyện không, thay vì bị quy chụp là hành vi "vượt rào". Bản chất của vụ án "đã có vấn đề" ngay từ việc chọn luật áp dụng.

Chúng ta không thể kết án một người dựa trên một văn bản trái luật. Vì vậy, điều nên làm là HĐXX phúc thẩm sẽ phải xem xét lại căn cứ kết tội cựu hiệu trưởng và cựu kế toán.

***

Luật sư NGUYỄN TRỌNG NGHĨA, Đoàn Luật sư TP.HCM:

Thực tiễn xét xử cho thấy không ít trường hợp các quyết định của UBND cấp tỉnh bị ban hành sai thẩm quyền, vi phạm thủ tục hoặc có nội dung trái với quy định của Luật, Nghị định, Thông tư.

ls-nghia.png
Luật sư Nguyễn Trọng Nghĩa.

Xét trong vụ án này, Toà án cấp sơ thẩm đã căn cứ vào Quyết định 22/2013 của UBND TP Hà Nội là một trong những căn cứ kết tội cựu Hiệu trưởng Bình và cựu kế toán Nguyệt.

Hiện bản án đã bị kháng cáo và chờ được xem xét theo thủ tục phúc thẩm. Do đó, trong phiên toà phúc thẩm sắp tới HĐXX cần đánh giá lại hành vi phạm tội của các bị cáo. Nếu quyết định 22 là căn cứ quan trọng nhất, mang tính định hướng và cốt lõi để cấu thành tội phạm thì việc hủy bỏ Quyết định 22 này cộng thêm các căn cứ khác dẫn đến hành vi của bị cáo không còn cấu thành tội phạm thì toà án cấp phúc thẩm cần tuyên bị cáo không phạm tội và đình chỉ vụ án.

HỮU ĐĂNG ghi

Vụ án từ chuyện dạy thêm, học thêm

Theo bản án sơ thẩm của TAND khu vực 1 - Hà Nội, năm học 2013-2014, bà Nguyễn Thị Bình, bà Phạm Thị Minh Nguyệt thu tiền học thêm của 24 lớp các khối 7, 8, 9 với tổng số tiền chênh lệch hơn 1 tỉ đồng so với mức thu quy định.

Mặc dù UBND TP Hà Nội có Quyết định 22/2013 quy định “Mức thu tiền học thêm do thỏa thuận bằng văn bản giữa cha mẹ học sinh với nhà trường đảm bảo phù hợp với điều kiện thực tế ở địa phương”. Mức thu này được tính theo tiết học và tùy theo sĩ số lớp, càng đông mức càng giảm.

Tòa cho rằng dù có quy định trên, cựu hiệu trưởng Bình và cựu kế toán Nguyệt cùng các giáo viên chủ nhiệm các khối 7, 8, 9 thu tiền dạy thêm, học thêm theo một mức chung là 15.000 đồng/tiết/học sinh; cao hơn quy định. Trong số tiền thu được, 70% trả cho giáo viên trực tiếp giảng dạy, 30% dùng cho quản lý và cơ sở vật chất.

Sau phiên tòa sơ thẩm, bà Bình kháng cáo toàn bộ bản án.

BÙI TRANG

Đọc thêm