Kéo dòng tiền tỉ USD về 'sân nhà' bằng hệ sinh thái tài chính hàng hải

(PLO)- Hệ sinh thái tài chính hàng hải vừa ra mắt tại TP.HCM, được kỳ vọng sẽ trở thành tâm điểm níu giữ lại dòng tiền hàng tỉ USD đang chảy ra nước ngoài, đồng thời mở ra dư địa mới cho dịch vụ tài chính cao cấp gắn với kinh tế cảng biển.

Trung tâm Tài chính quốc tế Việt Nam tại TP.HCM (VIFC-HCMC) vừa chính thức ra mắt Hệ sinh thái Trung tâm Tài chính hàng hải quốc tế (IMFC) – một trong bốn trụ cột chiến lược. Mô hình này được kỳ vọng khơi thông dòng vốn và các dịch vụ tài chính cao cấp, gắn chặt với nền kinh tế cảng biển thực của TP.HCM.

Chia sẻ với Pháp Luật TP.HCM, PGS.TS Nguyễn Hữu Huân – Phó Chủ tịch Cơ quan điều hành Trung tâm Tài chính Quốc tế TP.HCM đã phân tích tiềm năng và dư địa phát triển của mô hình này.

Khát vọng giữ lại chuỗi giá trị và kiến tạo mô hình đổi mới sáng tạo

.Phóng viên: TP.HCM là nơi tập trung những cảng biển lớn của khu vực, nhưng dường như chúng ta vẫn chưa tận dụng được hết tiềm năng từ vị thế đó. Ông có thể nói rõ hơn về nghịch lý này?

+ PGS.TS Nguyễn Hữu Huân: Không chỉ ở TP.HCM mà Việt Nam đang sở hữu những cảng biển hàng đầu của khu vực Đông Nam Á và của thế giới. Mặc dù dòng chảy hàng hóa đi qua các cảng biển của Việt Nam rất lớn, khoảng trên 1.000 tỉ USD/năm, nhưng dòng chảy tài chính có giá trị gia tăng rất lớn bên cạnh dòng chảy hàng hóa dường như vẫn đang được thực hiện ở bên ngoài như tại Singapore, Hồng Kông hay Dubai.

Chính vì thế, với chiến lược thành lập hệ sinh thái tài chính hàng hải sẽ tạo cơ hội để chúng ta có từng bước tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu, đặc biệt là chuyển dịch cơ cấu nền kinh tế từ các lĩnh vực có giá trị gia tăng thấp sang các lĩnh vực có giá trị gia tăng cao và giữ lại nhiều giá trị hơn cho thành phố trong thời gian tới.

Khai thác cảng biển hiện đại, nền tảng kết nối dòng hàng hóa, tài chính và thương mại quốc tế. Ảnh: T.L

. Cụ thể, hệ sinh thái tài chính hàng hải mà TP.HCM đang xây dựng sẽ gồm những thành phần nào? Đâu là những mắt xích then chốt?

+ Về hệ sinh thái tài chính hàng hải, hiện nay chúng ta đang xây dựng một hệ sinh thái hoàn thiện và toàn diện với các thành phần như sau:

Thứ nhất, về thương mại và công nghiệp hàng hải: Chúng tôi kêu gọi các doanh nghiệp vận tải biển, cảng biển và logistics tham gia để tạo nguồn cầu cho hệ thống tài chính hàng hải trong thời gian tới.

Thứ hai, chúng ta sẽ thu hút các định chế tài chính hàng hải hàng đầu trên thế giới cùng tham gia kiến tạo hệ sinh thái này, bao gồm các ngân hàng, công ty bảo hiểm và quỹ đầu tư. Vai trò của các đơn vị này là cung cấp các dịch vụ tài chính chuyên biệt cho hàng hải, đặc biệt là các dịch vụ tài chính chuyên sâu như bảo hiểm, tái bảo hiểm và các dịch vụ phái sinh rủi ro.

. Ông nhấn mạnh đến yếu tố đổi mới sáng tạo như một điểm khác biệt. Từ thực tế làm việc với các tập đoàn hàng hải lớn, ông thấy cơ hội đột phá nằm ở đâu?

+ Chúng tôi định vị hệ sinh thái tài chính hàng hải này phải mang tính đổi mới sáng tạo, đây cũng sẽ là sự khác biệt của chúng ta so với các trung tâm hàng hải truyền thống hiện nay. Chúng tôi khuyến khích các doanh nghiệp, đặc biệt là các công ty công nghệ phát triển nền tảng số và giải pháp cho lĩnh vực hàng hải này.

Trong quá trình làm việc với các đối tác hàng hải lớn của thế giới, tôi nhận thấy rằng mặc dù những đối tác này rất lớn trên thế giới nhưng về vấn đề chuyển đổi số, đặc biệt trong bối cảnh Cách mạng Công nghiệp 4.0 hiện tại lĩnh vực hàng hải vẫn còn tương đối sơ khai và còn rất nhiều nhu cầu cần được đáp ứng.

Chính vì thế, các doanh nghiệp công nghệ đặc biệt là công nghệ trong lĩnh vực hàng hải sẽ là một giải pháp rất tốt để giúp ngành hàng hải tối ưu hóa hệ thống vận hành. Sự kết hợp giữa chuyển đổi số trong lĩnh vực hàng hải và Fintech sẽ tạo ra những mô hình tài chính mới, giúp dòng chảy hàng hóa và dòng chảy tài chính diễn ra trơn tru hơn, nhanh hơn và hiệu quả hơn trong thời gian tới.

. Hệ sinh thái này sẽ tạo ra sức mạnh cộng hưởng giữa các chủ thể ra sao, và đâu là yếu tố khác biệt giúp mô hình của TP.HCM định vị riêng so với các trung tâm tài chính quốc tế như Singapore hay Dubai?

+ Chúng ta tập trung xây dựng một hệ sinh thái và một không gian trong đó các doanh nghiệp, kể cả các nhà nhập khẩu, doanh nghiệp logistics và các tập đoàn tài chính, có thể kết nối với nhau thông qua các cơ chế vận hành và công nghệ mới nhất, hình thành nên một hệ sinh thái tài chính hàng hải vận hành hiệu quả trong thời kỳ tới.

Hệ sinh thái mà IFC TP.HCM định hình đóng vai trò đại diện và liên kết các chủ thể hàng hải theo chuẩn mực hội nhập quốc tế. Các trụ cột như cảng biển, vận tải và logistics được tích hợp, vận hành đồng bộ trên nền tảng công nghệ thông tin.

Song song đó, nhóm dịch vụ hỗ trợ gồm tài chính, dịch vụ chuyên biệt và công nghệ đổi mới sáng tạo sẽ tạo lực đẩy cho toàn hệ. Qua đó, hình thành một hệ sinh thái tài chính hàng hải hoàn chỉnh, đồng thời kết nối sâu với mạng lưới hàng hải toàn cầu.

Đột phá từ dịch vụ và cơ chế sandbox công nghệ

. Ông có thể nêu ra các sản phẩm, dịch vụ mũi nhọn mà hệ sinh thái tài chính hàng hải này sẽ ưu tiên triển khai? Và đâu là những cấu phần hoàn toàn mới, lần đầu xuất hiện trong hệ sinh thái tài chính hàng hải quốc tế?

+ Thứ nhất, Trung tâm Tài trợ Hàng hải và cho thuê tàu. Đây là mảng rất quan trọng không chỉ với tài chính hàng hải mà cả hàng không.

Thứ hai, đây cũng là một điểm mới của Trung tâm Tài chính chuyển đổi Xanh cho Đội Tàu. Hiện nay chúng tôi đang làm việc với các ngân hàng liên quan để cùng nhau kiến tạo và phát triển dịch vụ tài chính xanh lam; khác với dịch vụ tài chính xanh trên đất liền.

Thứ ba, Trung tâm Trọng tài hàng hải với chi phí cạnh tranh hơn so với các quốc gia trong khu vực như Singapore, Dubai hay Hồng Kông.

Thứ tư, Trung tâm Bảo hiểm hàng hải cho thị trường mới nổi. Lĩnh vực bảo hiểm và tái bảo hiểm là một trong những lĩnh vực rất màu mỡ trong mảng tài chính hàng hải. Trong bối cảnh toàn cầu hiện nay, với các bất ổn địa chính trị và xung đột, nhu cầu về bảo hiểm hàng hải ngày càng quan trọng hơn.

Thứ năm, cơ chế sandbox công nghệ hàng hải và phòng thí nghiệm AI. IFC được trao quyền xây dựng cơ chế thử nghiệm cho công nghệ hàng hải, dịch vụ tài chính mới ngay trong Trung tâm Tài chính Quốc tế tại TP.HCM.

Một ví dụ điển hình là tokenization tức là số hóa tài sản tài chính thành các “token” để huy động vốn. Thay vì phụ thuộc vào nguồn vốn hàng tỉ USD từ các tập đoàn lớn, doanh nghiệp có thể gọi vốn linh hoạt hơn thông qua phát hành token. Cách tiếp cận này giúp mở rộng kênh huy động, nâng cao hiệu quả so với mô hình truyền thống.

Dòng vốn từ IFC kỳ vọng san sẻ gánh nặng tín dụng, giảm phụ thuộc vào hệ thống ngân hàng. Ảnh: Nguyệt Nhi

. Thưa ông, vậy với những doanh nghiệp đang cân nhắc tham gia vào hệ sinh thái này sẽ được hưởng những lợi ích gì so với việc tiếp tục làm việc qua Singapore hay Hồng Kông như trước?

+ Các doanh nghiệp khi tham gia vào hệ sinh thái tài chính hàng hải sẽ được hưởng như là được tự do chuyển đổi ngoại tệ trong Trung tâm Tài chính Quốc tế tại Việt Nam (TP.HCM và Đà Nẵng) cho phép các thành viên hoạt động giao dịch vốn và ngoại tệ được tự do hóa gần như hoàn toàn.

Ngoài ra, được hưởng ưu đãi về thuế, chẳng hạn như miễn thuế thu nhập cá nhân cho đến năm 2030, miễn thuế nhập khẩu đối với tài sản cố định... Đồng thời, khi doanh nghiệp tham gia vào hệ sinh thái tài chính hàng hải sẽ được hỗ trợ huy động vốn quốc tế, khung thử nghiệm có kiểm soát và ưu đãi về nguồn nhân lực quốc tế... Hiện nay trong Trung tâm Quốc tế, người nước ngoài có thể được cấp visa lên đến 10 năm.

. Xin cám ơn ông!

TS. Cấn Văn Lực, chuyên gia kinh tế:

Việt Nam đang để “trôi” 80-90% giá trị hàng hải ra nước ngoài

Việt Nam đang đứng trước một nghịch lý lớn trong phát triển kinh tế biển: dù sở hữu vị trí địa chiến lược và hưởng lợi từ dịch chuyển chuỗi cung ứng toàn cầu, nhưng phần lớn giá trị gia tăng của ngành hàng hải lại đang “chảy” ra nước ngoài.

Năng suất lao động ngành hàng hải Việt Nam hiện chỉ bằng 1/5 Malaysia và 1/10 Singapore. Đáng chú ý hơn, khoảng 80-90% dịch vụ liên quan đến hàng hải, logistics và các dịch vụ hỗ trợ khác đang được thực hiện ở nước ngoài, khiến Việt Nam chỉ thu về khoảng 5-10% giá trị. Điều này đồng nghĩa với việc chúng ta đang bỏ lỡ phần lớn “miếng bánh” trong chuỗi giá trị toàn cầu.

Hiện nay, Việt Nam chỉ giữ lại khoảng 7% giá trị từ hoạt động hàng hải, tương đương 0,9% GDP. Mục tiêu đến năm 2030 là nâng tỷ lệ này lên 15%, đóng góp khoảng 2% GDP. Đây là mục tiêu hoàn toàn khả thi nếu có chính sách phù hợp, bởi Malaysia đã đạt mức đóng góp khoảng 4% GDP từ lĩnh vực này.

Để hiện thực hóa mục tiêu, tôi đề xuất năm nhóm giải pháp trọng tâm:

Thứ nhất, nhanh chóng hoàn thiện thể chế, chính sách và quy định vận hành, đặc biệt làm rõ cơ chế ưu đãi dành cho Trung tâm Tài chính Hàng hải Quốc tế trong tương quan với Trung tâm Tài chính Quốc tế.

Thứ hai, kiện toàn bộ máy tổ chức và quy trình vận hành trên nền tảng công nghệ hiện đại, gắn với phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao tại TP.HCM.

Thứ ba, khẩn trương xây dựng hệ sinh thái thực chất, quy tụ các hãng tàu, doanh nghiệp logistics, định chế tài chính và đối tác liên quan nhằm cung cấp dịch vụ tài chính hàng hải trọn gói, có khả năng kết nối trong nước và khu vực.

Thứ tư, yếu tố cốt lõi không nằm ở hạ tầng vật lý mà ở niềm tin, bao gồm niềm tin vào thể chế, chính sách và năng lực thực thi. Đồng thời, Trung tâm Tài chính Hàng hải Quốc tế phải gắn với bốn yếu tố “thật” đó là hàng hóa thật, cảng biển thật, doanh thu thật và logistics thật. Nếu tách rời các yếu tố này, mô hình sẽ chỉ dừng lại ở hình thức hành chính.

Nếu kết nối hiệu quả giữa Trung tâm Tài chính Quốc tế với hệ thống cảng biển và hành lang logistics trong nước và quốc tế, Việt Nam hoàn toàn có thể vươn lên trở thành một cực tăng trưởng mới, giữ lại giá trị và nâng tầm vị thế trong chuỗi giá trị toàn cầu.

TS. Lê Bá Chí Nhân, Chuyên gia kinh tế:

Muốn hút vốn quốc tế, phải cạnh tranh bằng thể chế

Để Trung tâm Tài chính Quốc tế tại TP.HCM trở thành cực tăng trưởng mới và đủ sức cạnh tranh với Singapore, Hong Kong hay Dubai, yếu tố quyết định không nằm ở hạ tầng hay quy mô, mà ở khả năng thu hút dòng vốn toàn cầu, các định chế tài chính quốc tế và nguồn nhân lực chất lượng cao.

Nền tảng cốt lõi là một thể chế vượt trội. Nhà đầu tư quốc tế không chỉ tìm kiếm lợi nhuận, mà còn đặt nặng tính ổn định, minh bạch và khả năng dự đoán của môi trường pháp lý. Vì vậy, TP.HCM cần được trao quyền thí điểm các cơ chế đặc thù, bao gồm “sandbox” cho fintech, tài sản số, thanh toán xuyên biên giới và các sản phẩm tài chính hiện đại theo chuẩn mực quốc tế.

Bên cạnh đó, chính sách thuế cần đủ sức cạnh tranh trong giai đoạn đầu. Nhiều trung tâm tài chính thành công đã áp dụng ưu đãi có chọn lọc cho quỹ đầu tư, ngân hàng quốc tế và công ty quản lý tài sản. Việt Nam cũng cần những gói chính sách tương tự để tạo lực hút ban đầu đối với dòng vốn.

Một trụ cột khác là tự do hóa dòng vốn theo lộ trình phù hợp. Một trung tâm tài chính không thể phát triển nếu các giao dịch chuyển vốn, ngoại hối và đầu tư quốc tế vẫn bị ràng buộc bởi thủ tục hành chính phức tạp. Cơ chế quản lý ngoại hối cần linh hoạt hơn, nhưng vẫn bảo đảm an toàn hệ thống.

Song song, việc phát triển thị trường vốn là điều kiện tiên quyết. Nhà đầu tư quốc tế chỉ tham gia khi thị trường đủ lớn và có chiều sâu. Điều này đòi hỏi Việt Nam phải nâng hạng thị trường chứng khoán, minh bạch hóa thị trường trái phiếu doanh nghiệp, đồng thời phát triển các quỹ đầu tư, quỹ hưu trí và sản phẩm tài chính hiện đại.

Cuối cùng, yếu tố quyết định vẫn là chất lượng quản trị. Một trung tâm tài chính quốc tế phải vận hành theo chuẩn mực toàn cầu về pháp quyền, minh bạch thông tin, bảo vệ nhà đầu tư và cơ chế giải quyết tranh chấp hiệu quả. Khi niềm tin thể chế được thiết lập, TP.HCM không chỉ thu hút dòng vốn ngắn hạn mà còn trở thành điểm đến chiến lược của dòng vốn dài hạn.

Nói cách khác, cạnh tranh bằng ưu đãi là cần thiết, nhưng chưa đủ. Lợi thế bền vững phải đến từ chất lượng thể chế, tính minh bạch và khả năng hội nhập sâu với hệ thống tài chính toàn cầu, là nền tảng để TP.HCM vươn lên thành cửa ngõ tài chính của Việt Nam và ASEAN trong những thập niên tới.

Đừng bỏ lỡ

Video đang xem nhiều

Đọc thêm

Đọc nhiều
Tiện ích
Tin mới