Bộ Công an đang lấy ý kiến Dự thảo hồ sơ chính sách dự án Bộ luật Hình sự (sửa đổi). Trong đó, có đề xuất truy cứu TNHS đối với người bào chữa về hành vi không tố giác tội phạm do thân chủ đang chuẩn bị thực hiện hoặc đang thực hiện.
Làm sao để luật sư biết khách hàng phạm tội mà tố giác?
Vấn đề đặt ra là ở thời điểm chưa có tin báo, chưa có điều tra, chưa có khởi tố, chưa có bất kỳ quy trình tố tụng nào được tiến hành thì cái duy nhất tồn tại là lời kể của thân chủ với luật sư (LS) của mình.
Lời kể ấy có thể sai từ đầu, khách hàng tự nhận tội vì hoảng loạn, vì hiểu sai pháp luật, vì chịu áp lực, vì muốn gánh thay người thân, vì tưởng hành vi của mình cấu thành tội phạm, trong khi thực tế là vi phạm hành chính hoặc không cấu thành tội phạm. Lời khai chính thức trước cơ quan điều tra nhiều khi còn không đủ căn cứ để buộc tội thì lời kể cho LS lại càng không.
Biết và nghe là hai trạng thái nhận thức hoàn toàn khác nhau. Biết là kết quả của một quá trình xác minh. Nghe là tiếp nhận sự việc từ một nguồn nào đó. Gộp hai thứ lại làm một là không hợp lý.
Điều 13 Bộ luật Tố tụng hình sự (BLTTHS) quy định người bị buộc tội được coi là không có tội cho đến khi được chứng minh theo trình tự, thủ tục luật định và có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật. Tức là trước thời điểm đó, không ai được quyền tuyên người khác có tội. Không phải điều tra viên, không phải kiểm sát viên, không phải thẩm phán ở giai đoạn sơ thẩm (nếu án chưa có hiệu lực) và đương nhiên không phải LS.
Khách hàng kể cho LS nghe điều gì? Một phiên bản của sự việc. Phiên bản của một con người đang bị nghi ngờ, đang hoảng loạn, có thể đang cố tự bảo vệ, có thể đang tự suy diễn mà không nhận ra. Lời kể đó có thể đúng một phần, đúng toàn phần hoặc bị bóp méo từ chính người kể.
Bí mật nghề nghiệp không phải là đặc quyền của LS. Đó là bảo hộ mà pháp luật dành cho người bị buộc tội. Để người ấy có thể trình bày đầy đủ sự thật cho người bảo vệ mình mà không sợ lời mình nói sẽ trở thành vũ khí chống lại chính mình. Phá vỡ bảo hộ đó là phá vỡ quyền bào chữa. Phá vỡ quyền bào chữa là phá vỡ một trụ cột của tố tụng hình sự hiện đại.
LS không có quyền điều tra, thẩm vấn bất kỳ ai chứ đừng nói là chất vấn tường tận đối với người đang trả phí cho mình. LS cũng không có quyền khám xét nơi ở nơi làm việc, không có quyền triệu tập nhân chứng, không có quyền trưng cầu giám định... Mọi công cụ xác minh sự thật đều nằm trong tay cơ quan tiến hành tố tụng. Vậy dựa vào đâu để nói LS biết khách hàng phạm tội?
Trong thực tiễn hành nghề, những gì LS nghe được từ khách hàng đều là thông tin một chiều, chiều ngược lại là đối thủ của khách hàng cung cấp cho LS bên họ (nếu có). Đương nhiên là LS không có phương tiện kiểm chứng được hết những thông tin mà khách hàng cung cấp. Nếu LS nghe xong và tự "tuyên án" người mà mình được nhờ bảo vệ là có tội rồi đi tố giác thì đó là không làm đúng nghề LS.
Ngay chính các cơ quan ở giai đoạn tiền tố tụng cũng chưa dám kết luận một người phạm tội. Điều 143 BLTTHS quy định căn cứ khởi tố vụ án hình sự chỉ được xác lập khi xác định có dấu hiệu tội phạm và dấu hiệu đó phải qua quy trình giải quyết tin báo, tố giác theo Điều 147 BLTTHS. Các cơ quan tư pháp với toàn bộ bộ máy điều tra còn phải đi qua thủ tục đó, LS với duy nhất một lời kể từ một phía thì biết khách hàng phạm tội bằng cách nào mà tố giác?
Đạo đức nghề nghiệp hay trách nhiệm tố giác tội phạm?
Phạm tội không phải là một trạng thái có thể cảm nhận. Phạm tội là một cấu thành pháp lý đòi hỏi đủ 4 yếu tố khách thể, chủ thể, mặt khách quan, mặt chủ quan. Nó đòi hỏi phân định lỗi cố ý hay vô ý. Nó đòi hỏi định tội chính xác đến từng khoản của từng điều luật.
Toàn bộ công việc này không thể xác lập qua một buổi tiếp khách. Đó là phần việc mà các cơ quan tiến hành tố tụng thực hiện trong sự kiểm soát lẫn nhau, dưới sự tranh tụng của chính LS. Một LS tự mình kết luận khách hàng phạm tội ở giai đoạn tiền tố tụng là tự gộp vai trò của điều tra viên, kiểm sát viên và thẩm phán vào chính LS đó mà không có thẩm quyền, không có thủ tục, không có đối trọng.
Nói vậy không có nghĩa là LS được im lặng trong mọi tình huống. Nếu LS phát hiện ai đó đang chuẩn bị hoặc đang thực hiện hành vi xâm phạm tính mạng, sức khỏe của người khác thì LS phải báo ngay cho cơ quan chức năng.
Nhưng nghĩa vụ này không xuất phát từ tư cách LS, nó xuất phát từ tư cách công dân trước một tội phạm đang diễn ra, được ấn định tại khoản 1 Điều 19 BLHS. Việc LS cũng nằm trong diện tố giác tội phạm không làm tăng thêm một chút nào bổn phận nghề nghiệp của LS.
Ngược lại, khoản 3 Điều 19 BLHS còn thu hẹp phạm vi tố giác của LS đối với thông tin biết được khi thực hiện nhiệm vụ bào chữa chính là để bảo vệ quyền bào chữa. Gộp nghĩa vụ công dân với nghĩa vụ nghề nghiệp LS là một điều không nên.
Điều 25 Luật Luật sư quy định LS không được tiết lộ thông tin về vụ việc, về khách hàng mà mình biết được trong khi hành nghề, trừ trường hợp được khách hàng đồng ý bằng văn bản hoặc pháp luật có quy định khác. Quy tắc 7 Bộ Quy tắc Đạo đức và Ứng xử nghề nghiệp LS Việt Nam nâng nghĩa vụ này thành bổn phận đạo đức nền tảng kéo dài cả sau khi vụ việc đã kết thúc.
Bí mật nghề nghiệp không phải là đặc quyền của LS. Đó là bảo hộ mà pháp luật dành cho người bị buộc tội. Để người ấy có thể trình bày đầy đủ sự thật cho người bảo vệ mình mà không sợ lời mình nói sẽ trở thành vũ khí chống lại chính mình. Phá vỡ bảo hộ đó là phá vỡ quyền bào chữa. Phá vỡ quyền bào chữa là phá vỡ một trụ cột của tố tụng hình sự hiện đại.
Khoản 3 Điều 19 BLHS quy định người bào chữa phải chịu TNHS về tội không tố giác tội phạm (Điều 390 BLHS) nếu không tố giác các tội xâm phạm an ninh quốc gia hoặc tội đặc biệt nghiêm trọng khác do chính thân chủ đang chuẩn bị, đang thực hiện hoặc đã thực hiện mà biết rõ khi thực hiện nhiệm vụ bào chữa.
Ai bảo LS biết khách hàng phạm tội ở giai đoạn tiền tố tụng thì người đó hoặc không hiểu nghề LS hoặc không hiểu tố tụng hình sự, hoặc hiểu cả hai nhưng đang cố tình lẫn lộn để phục vụ một luận điểm nằm ở chỗ khác.
Hai chữ "biết rõ" là căn cứ mà người ủng hộ mở rộng nghĩa vụ tố giác cố tình bỏ qua. Luật yêu cầu nhận thức chắc chắn, không phải nghi ngờ, không phải phán đoán từ một lời kể. Danh mục tội được giới hạn bởi Điều 389 BLHS (tội che giấu tội phạm). Ngoài phạm vi đó thì LS không những không có nghĩa vụ tố giác mà còn bị pháp luật và đạo đức nghề nghiệp nghiêm cấm tố giác.
Quan điểm muốn mở rộng nghĩa vụ này dường như đang đi ngược với thiết kế lập pháp, đi ngược với nguyên tắc suy đoán vô tội. Quan trọng hơn, quan điểm này đi ngược logic của chính hoạt động buộc tội công bằng.
Nguy cơ tạo ra án oan
Nếu LS có thể đơn phương tố giác thân chủ dựa trên lời khai chưa kiểm chứng thì hệ quả dây chuyền ra sao? Cơ quan điều tra nhận được một nguồn tin tội phạm mang uy tín nghề LS, nguồn tin đó gần như chắc chắn dẫn đến khởi tố.
Nhưng lời khai khởi đầu lại là lời khai mà khách hàng cung cấp trong tình trạng tin tưởng tuyệt đối rằng mình đang nói với người bảo vệ mình. Lời khai thu thập qua con đường ấy là lời khai trái thủ tục tố tụng.
Một vụ án bắt đầu từ sự phản bội nghề nghiệp không thể là vụ án công minh. Nó là một vụ án dựng sẵn nguyên liệu cho oan sai. Người ta hay nói LS không tố giác thân chủ là bao che tội phạm nhưng ngược lại mới đúng. LS tự biến mình thành người tố giác dựa trên thông tin một chiều mới là người tạo ra nguy cơ án oan trực tiếp.
Người tuân thủ đúng thủ tục, đúng chức năng, đúng đạo đức nghề nghiệp là người giữ đúng vai trò bào chữa. Người phá thủ tục, lẫn lộn chức năng, vi phạm bí mật nghề nghiệp là người đang đi trái với nguyên lý hành nghề LS.
Nghề LS không sinh ra để hỗ trợ buộc tội. Nghề này tồn tại để cân bằng quyền lực giữa nhà nước và cá nhân trong tố tụng hình sự. Một bên có bộ máy điều tra, truy tố, xét xử cùng toàn bộ quyền lực cưỡng chế của nhà nước. Một bên chỉ có một con người đơn lẻ đang đối diện nguy cơ mất tự do, mất danh dự, có khi mất cả mạng sống.