Tạm hoãn xử lý hình sự để khắc phục hậu quả: Bệ đỡ pháp lý vượt trội cho doanh nghiệp

Tạm hoãn xử lý hình sự để khắc phục hậu quả: Bệ đỡ pháp lý vượt trội cho doanh nghiệp

(PLO)- Các chuyên gia cho rằng đề xuất tạm hoãn truy cứu trách nhiệm hình sự để khắc phục hậu quả là phù hợp với bối cảnh phát triển mới của đất nước; song cần có tiêu chí, quy định chặt chẽ để tránh bị lạm dụng.

Vừa qua, Bộ Công an đã công bố dự thảo hồ sơ chính sách dự án BLHS (sửa đổi) với nhiều nội dung mới đáng chú ý. Trong đó có đề xuất cơ chế tạm hoãn truy cứu trách nhiệm hình sự (TNHS) như một tầng xử lý trung gian giữa “truy cứu ngay” và “miễn ngay”.

Cụ thể, cho thời gian khắc phục hậu quả đối với các hành vi vi phạm, gây thiệt hại về kinh tế nhưng vì mục đích phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng an ninh; không tham nhũng; mang lại hiệu quả kinh tế - xã hội cho địa phương, đất nước; có thể khắc phục toàn bộ hậu quả để bảo đảm phù hợp với tinh thần của Nghị quyết 68 về phát triển kinh tế tư nhân và Nghị quyết 79 về phát triển kinh tế nhà nước.

Bên cạnh đó, bổ sung căn cứ được miễn TNHS đối với người được tạm hoãn truy cứu TNHS mà đã đủ các điều kiện được miễn theo quy định; cho phép miễn TNHS ngay trong giai đoạn giải quyết tin báo, tố giác tội phạm thay vì phải chờ khởi tố vụ án như hiện nay.

dad8a.jpg

Pháp Luật TP.HCM ghi nhận ý kiến các chuyên gia xung quanh vấn đề nêu trên.

ThS - luật sư LÝ NGỌC SƠN, nguyên thẩm phán TAND TP Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương cũ:

Càng linh hoạt trong xử lý án kinh tế càng phải kiểm soát chặt

thạc sĩ , luật sư Lý Ngọc Sơn.jpg

Các vi phạm trong lĩnh vực kinh tế có tính chất khác với tội phạm truyền thống, nhiều trường hợp phát sinh trong quá trình điều hành, thử nghiệm mô hình kinh doanh hoặc xử lý tình huống phức tạp, nơi rủi ro và vi phạm đan xen. Nếu xử lý hình sự quá sớm và cứng nhắc, không chỉ cá nhân bị ảnh hưởng mà còn có thể làm gián đoạn hoạt động của doanh nghiệp, tác động đến thị trường, việc làm và khả năng thu hồi tài sản.

Trong bối cảnh đó, cơ chế tạm hoãn truy cứu TNHS tạo ra một “khoảng đệm pháp lý”, cho phép ưu tiên khắc phục hậu quả trước khi quyết định xem xét xử lý hình sự. Điều này giúp tăng khả năng thu hồi tài sản, hạn chế thiệt hại lan rộng và giảm chi phí xã hội. Thực tế, có những vụ việc bị khởi tố ngay khiến dự án “đóng băng”, dòng tiền đứt gãy và cuối cùng Nhà nước cũng khó thu hồi thiệt hại.

Bên cạnh đó, dự thảo cho phép xem xét miễn TNHS ngay từ giai đoạn giải quyết tin báo, tố giác tội phạm thay vì chờ khởi tố vụ án như hiện nay. Đây là bước dịch chuyển thời điểm ra quyết định tố tụng lên sớm hơn, giúp giảm tác động tiêu cực đến hoạt động kinh doanh. Tuy nhiên, nếu thiếu cơ chế kiểm soát chặt chẽ, rất dễ hình thành tâm lý có thể “khắc phục bằng tiền để tránh TNHS”.

Vì vậy, việc áp dụng cần đi kèm các tiêu chí rõ ràng và mang tính bắt buộc. Trước hết, cơ chế này chỉ nên áp dụng với các hành vi không có yếu tố tham nhũng, không nhằm mục đích vụ lợi cá nhân. Đây phải được xem là giới hạn pháp lý quan trọng nhất, bởi những hành vi có động cơ trục lợi rõ ràng vẫn cần xử lý nghiêm để bảo đảm tính răn đe.

Bên cạnh đó, tiêu chí “vì lợi ích chung” cần được lượng hóa bằng các căn cứ khách quan, có thể kiểm chứng, tránh tình trạng diễn giải chủ quan hoặc áp dụng tùy nghi. Việc khắc phục hậu quả cũng phải mang tính toàn diện và thực chất, không chỉ dừng ở hoàn trả tài sản mà còn phải bồi thường đầy đủ, khôi phục trạng thái ban đầu ở mức cao nhất có thể. Kết quả khắc phục cần được xác nhận thông qua các cơ chế độc lập như kiểm toán hoặc thẩm định chuyên môn.

Một yếu tố quan trọng khác là tính tự nguyện và kịp thời. Việc khắc phục phải xuất phát từ ý thức chủ động của người vi phạm, thay vì chỉ là phản ứng khi đã đối mặt với nguy cơ bị xử lý hình sự. Nếu thiếu các “điểm chốt” này, cơ chế rất dễ bị biến thành “lối thoát hợp pháp” cho những sai phạm đáng lẽ phải xử lý hình sự, ảnh hưởng đến niềm tin vào tính công bằng của pháp luật.

Việc đưa quyết định miễn TNHS lên giai đoạn sớm cũng đòi hỏi tăng cường vai trò của VKS. Mọi quyết định tạm hoãn truy cứu hoặc miễn TNHS phải dựa trên chứng cứ đầy đủ về bản chất hành vi, mức độ thiệt hại và kết quả khắc phục hậu quả.

Cùng với đó, cần có hệ thống tiêu chí kiểm sát thống nhất để tránh tình trạng cùng một loại vụ việc nhưng được xử lý khác nhau giữa các địa phương. Các quyết định miễn TNHS phải được lập luận rõ ràng, có hồ sơ đầy đủ, bảo đảm tính minh bạch, trách nhiệm giải trình và có thể được xem xét lại khi cần thiết. Có thể nghiên cứu cơ chế báo cáo bắt buộc hoặc kiểm tra định kỳ nhằm kiểm soát việc áp dụng trên thực tế.

Linh hoạt trong xử lý không đồng nghĩa với nới lỏng kỷ luật pháp lý. Ngược lại, càng linh hoạt thì càng phải kiểm soát chặt chẽ để tránh nguy cơ lạm dụng.

ThS NGUYỄN THỊ THÙY DUNG, khoa Luật hình sự Trường ĐH Luật TP.HCM:

Đột phá tố tụng nhưng phải kiểm soát quyền lực chặt chẽ

thạc sĩ Nguyễn Thị Thùy Dung.jpg

Việc bổ sung cơ chế tạm hoãn truy cứu TNHS như một “tầng trung gian” giữa truy cứu và miễn TNHS cho thấy sự chuyển dịch từ cách tiếp cận thiên về trừng phạt sang quản trị rủi ro và phục hồi. Cách tiếp cận này phù hợp với tinh thần của Nghị quyết 29/2026/QH16 về xử lý vi phạm gắn với khắc phục hậu quả, đồng thời có sự tương thích với định hướng phát triển kinh tế tư nhân tại Nghị quyết 68-NQ/TW, nhất là ở yêu cầu giảm rủi ro pháp lý để doanh nhân, nhà quản lý yên tâm sáng tạo, cống hiến.

Cơ chế mới phù hợp với các vụ việc kinh tế, môi trường - những lĩnh vực mà thiệt hại chủ yếu mang tính vật chất, có thể định lượng và khắc phục. Nếu pháp luật chỉ tồn tại hai trạng thái “truy cứu ngay” hoặc “miễn ngay”, sẽ thiếu độ linh hoạt cần thiết, hoặc xử lý quá nghiêm dẫn đến đổ vỡ chuỗi sản xuất - kinh doanh hoặc miễn trách nhiệm khi chưa có đủ cơ chế kiểm soát.

Cơ chế tạm hoãn truy cứu TNHS giúp Nhà nước có thêm “thời gian pháp lý” để người vi phạm khắc phục hậu quả, qua đó tăng khả năng thu hồi tài sản, hạn chế thiệt hại và giảm tác động tiêu cực đến hoạt động kinh tế. Đồng thời, cơ chế này cũng được kỳ vọng góp phần giữ lại nguồn nhân lực quản lý, doanh nhân có năng lực nhưng vướng sai phạm trong quá trình vận hành kinh tế, thay vì loại bỏ hoàn toàn khỏi đời sống kinh tế.

Việc chuyển từ tư duy “trừng phạt” sang “khắc phục - phục hồi” trong một số nhóm tội phạm kinh tế, môi trường là phù hợp với xu hướng của nhiều hệ thống pháp luật hiện đại. Trong các vụ án này, việc thu hồi tài sản, khôi phục môi trường, duy trì sản xuất và bảo vệ việc làm thường mang lại giá trị xã hội lớn hơn so với áp dụng hình phạt tù thuần túy. Tuy nhiên, sự chuyển dịch này không đồng nghĩa với nới lỏng trách nhiệm hình sự, mà phải đặt trên nền tảng điều kiện chặt chẽ, đặc biệt là loại trừ yếu tố tham nhũng và trục lợi cá nhân.

Đáng chú ý, đề xuất cho phép miễn TNHS ngay từ giai đoạn giải quyết tin báo, tố giác tội phạm được xem là điểm đột phá trong tố tụng hình sự. Cơ chế này có thể giúp giảm chi phí xã hội, hạn chế tổn thất danh dự cho doanh nghiệp và cá nhân, song cũng đặt ra yêu cầu kiểm soát chặt chẽ để tránh nguy cơ tùy tiện, phát sinh tiêu cực hoặc ảnh hưởng đến quyền con người. Đây được xem là xu hướng “phi hình sự hóa có điều kiện”, trong đó Nhà nước không chỉ đóng vai trò trừng phạt mà còn điều phối rủi ro, tạo cơ hội sửa sai trong khuôn khổ pháp luật.

Vì vậy, việc thiết kế các “điểm chặn” được xem là điều kiện tiên quyết. Các tiêu chí như “vì lợi ích phát triển kinh tế - xã hội”, “không có mục đích vụ lợi” hay “hiệu quả dự án” cần được chuẩn hóa, lượng hóa để tránh diễn giải chủ quan. Đồng thời, việc khắc phục hậu quả phải được bảo đảm bằng các cơ chế thực chất như ký quỹ, phong tỏa tài sản, bảo lãnh tài chính và thẩm định độc lập từ cơ quan chuyên môn. Quyền của người bị buộc tội, bao gồm quyền có luật sư, quyền trình bày và quyền khiếu nại, cũng cần được bảo đảm ngay từ giai đoạn giải quyết tin báo.

Tuy nhiên, nếu kiểm soát không chặt, cơ chế “tạm hoãn truy cứu - khắc phục hậu quả - có thể miễn TNHS” có thể bị biến dạng thành một dạng “thương lượng trách nhiệm hình sự”, nhất là khi cơ quan điều tra vừa thu thập chứng cứ vừa có ảnh hưởng lớn trong việc đánh giá kết quả khắc phục.

Trong bối cảnh đó, vai trò của VKS cần được tăng cường theo hướng kiểm soát thực chất quyền lực tố tụng. VKS không chỉ phê chuẩn hình thức mà phải thẩm tra độc lập về chứng cứ, động cơ, tính xác thực của việc khắc phục và giám sát liên tục quá trình thực hiện cam kết. Đồng thời, cần chuẩn hóa tiêu chí định lượng, tăng cường thẩm định độc lập, minh bạch hóa quyết định và thiết lập cơ chế khôi phục tố tụng ngay khi phát hiện vi phạm hoặc khắc phục không trung thực.

ThS PHAN THỊ TRÚC PHƯƠNG, khoa Kinh tế - Luật Trường ĐH Tiền Giang:

Cần tiêu chí khách quan, kiểm chứng được

thạc sĩ Phan Thị Trúc Phương.jpg

Đề xuất bổ sung cơ chế tạm hoãn truy cứu TNHS để khắc phục hậu quả là hướng tiếp cận phù hợp trong bối cảnh nhiều quan hệ kinh doanh - quản lý hiện nay có tính chất phức tạp và rủi ro cao.

Thực tế, trong lĩnh vực quản lý kinh tế, không phải mọi sai phạm đều xuất phát từ động cơ vụ lợi cá nhân. Có những trường hợp hành vi vi phạm nảy sinh trong quá trình triển khai các dự án đầu tư, giải ngân, xử lý tình huống khẩn cấp hoặc tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp và địa phương.

Tuy nhiên, việc một hành vi được thực hiện với kỳ vọng thúc đẩy phát triển kinh tế không đồng nghĩa với việc hành vi đó cần được loại trừ TNHS. Chính vì vậy, tiêu chí “mục đích phát triển kinh tế - xã hội” cần được đánh giá trên cơ sở khách quan thay vì chỉ dựa vào lời khai hoặc ý chí chủ quan của người thực hiện hành vi.

Do đó, dự thảo cần xác định rõ một số dấu hiệu pháp lý cơ bản như hành vi phát sinh trong quá trình thực hiện nhiệm vụ công hoặc triển khai dự án đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt; không nhằm mục đích chiếm đoạt tài sản; không có cơ chế hưởng lợi cá nhân trực tiếp hoặc gián tiếp. Đồng thời, kết quả thực tế của hoạt động đó có tạo ra giá trị cho cộng đồng, cho địa phương hoặc cho nền kinh tế hay không. Việc đánh giá cần đặt trong tổng thể bối cảnh quản lý, mức độ rủi ro khách quan và cả động cơ thực sự của người thực hiện hành vi.

Tương tự, cụm từ “không có yếu tố tham nhũng” cũng cần được cụ thể hóa bằng các tiêu chí có thể kiểm chứng được bằng chứng cứ tố tụng. Bởi tham nhũng hiện nay không chỉ biểu hiện ở việc nhận tiền hay tài sản trực tiếp mà còn có thể tồn tại dưới dạng lợi ích gián tiếp, lợi ích nhóm, lợi ích cho doanh nghiệp có liên quan hoặc lợi ích phi vật chất. Nếu chỉ dừng lại ở việc “không phát hiện hành vi nhận hối lộ” thì chưa đủ để loại trừ hoàn toàn yếu tố vụ lợi. Do đó, việc đánh giá cần đi kèm với cơ chế xác minh dòng tiền, tài sản, quan hệ lợi ích, các giao dịch có liên quan đến người thân hoặc tổ chức liên kết.

Đối với quy định cho phép miễn TNHS ngay từ giai đoạn giải quyết tin báo, tố giác tội phạm, cơ chế này không mâu thuẫn với nguyên tắc suy đoán vô tội quy định tại Điều 13 BLTTHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025) nếu được thiết kế đúng bản chất. Bởi việc miễn TNHS ở giai đoạn này chỉ là cơ chế xử lý đặc biệt nhằm ưu tiên khắc phục hậu quả, chứ chưa phải kết luận cuối cùng về trách nhiệm pháp lý của một cá nhân. Tuy nhiên, để bảo đảm tính khách quan và tránh lạm dụng, mọi quyết định áp dụng cần có căn cứ pháp lý rõ ràng và chịu sự kiểm sát chặt chẽ của VKS.•

Kỳ vọng tạo ra “điểm tựa pháp lý” cho doanh nghiệp

Tôi đánh giá cao các đề xuất trong hồ sơ dự thảo BLHS (sửa đổi) liên quan đến việc loại trừ TNHS, tạm hoãn truy cứu, miễn TNHS và miễn hình phạt.

Các đề xuất này có tác động đáng kể đến hoạt động kinh doanh và tâm lý của doanh nhân. Trước hết, pháp luật cần bám sát thực tiễn để tạo động lực cho phát triển kinh tế - xã hội, trong khi hệ thống pháp luật hiện nay vẫn còn tình trạng chồng chéo, thiếu đồng bộ ở một số lĩnh vực.

ong hung 1.jpg
Nguyên thẩm phán, luật sư Đào Văn Hưng, Viện Khoa học Pháp lý và Phát triển doanh nghiệp, Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam. Ảnh: THUẬN VĂN

Bên cạnh đó, khi vẫn còn tồn tại những yếu tố mang tính “xin-cho” trong thực thi chính sách thì hoạt động sản xuất, kinh doanh luôn tiềm ẩn rủi ro trước những thay đổi hoặc cách hiểu khác nhau của cơ quan áp dụng pháp luật. Thực tế cũng cho thấy việc xây dựng và áp dụng pháp luật ở một số nơi chưa thật sự thống nhất, dẫn đến tình trạng cùng một hành vi nhưng cách xử lý có thể khác nhau, gây khó khăn cho doanh nghiệp và làm giảm tính dự đoán của môi trường đầu tư.

Các đề xuất trong dự thảo được kỳ vọng tạo thêm “điểm tựa pháp lý”, giúp doanh nhân yên tâm đầu tư, nhất là trong các lĩnh vực khởi nghiệp, công nghệ lõi, sandbox…

Về phản ứng thực tiễn, cộng đồng doanh nghiệp nhìn chung đánh giá tích cực, coi đây là cơ hội đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa cũng như hộ kinh doanh. Tuy nhiên, cũng có ý kiến băn khoăn về nguy cơ chính sách có thể bị lợi dụng để né tránh TNHS.

Do đó, để bảo đảm tính nhân văn nhưng vẫn chặt chẽ trong thực thi, cần quy định rõ phạm vi áp dụng đối với các hành vi vi phạm trong lĩnh vực kinh tế phát sinh do lỗi vô ý trong quá trình thử nghiệm công nghệ mới hoặc trong các lĩnh vực chưa có quy định cụ thể. Đồng thời, bảo đảm nguyên tắc công khai, minh bạch, công bằng trong quá trình áp dụng và tăng cường vai trò giám sát của MTTQ Việt Nam, Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam…

Nguyên thẩm phán, luật sư ĐÀO VĂN HƯNG, Viện Khoa học pháp lý và Phát triển doanh nghiệp, Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam

LÊ HUY ghi

Tạo cơ hội cho doanh nghiệp nhưng phải đánh giá thận trọng

Đối với đề xuất cho phép miễn TNHS ngay từ giai đoạn giải quyết tin báo, tố giác tội phạm, đây được xem là bước thay đổi đáng chú ý trong tư duy tố tụng hình sự. Thực tế, không ít trường hợp dù hậu quả đã được khắc phục gần như toàn bộ nhưng doanh nghiệp vẫn phải trải qua đầy đủ quy trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử. Khi đó, ngay cả khi được đình chỉ hoặc miễn TNHS thì những tổn thất về uy tín, dòng tiền, khả năng tiếp cận tín dụng, thị trường và quan hệ thương mại đã xảy ra, rất khó khắc phục.

Trong nhiều trường hợp, điều doanh nghiệp cần không phải là “thoát tội”, mà là một khoảng thời gian hợp pháp để xử lý hậu quả, ổn định dòng tiền, bảo vệ hệ sinh thái kinh doanh và hạn chế hiệu ứng dây chuyền. Cơ chế tạm hoãn truy cứu có thể trở thành một “dư địa pháp lý”, giúp chuyển trạng thái từ đối đầu sang hợp tác có kiểm soát giữa Nhà nước và chủ thể vi phạm.

Tuy nhiên, thực tiễn cũng cho thấy nhiều rủi ro nếu thiếu cơ chế kiểm soát hiệu quả. Trong không ít vụ việc, khắc phục hậu quả không chỉ là hoàn trả tiền hoặc tài sản mà còn liên quan đến quyền lợi của nhiều chủ thể, phát sinh tranh chấp dân sự hoặc ảnh hưởng đến tính bền vững của giải pháp khắc phục. Nếu chỉ nhìn nhận khắc phục hậu quả dưới góc độ định lượng đơn giản, rất dễ bỏ qua những hệ quả pháp lý phức tạp phía sau.

Bên cạnh đó, do chưa phải qua các giai đoạn tố tụng nên việc đưa ra quyết định miễn TNHS từ giai đoạn giải quyết nguồn tin cần đặc biệt thận trọng để tránh đánh giá chưa toàn diện chứng cứ hoặc tạo ra sự bất cân xứng thông tin giữa cơ quan tố tụng và người bị xem xét trách nhiệm.

Luật sư TRẦN VĂN THÀNH, Đoàn Luật sư TP.HCM

Đọc thêm