Tạm hoãn xuất cảnh nếu nợ thuế từ 1 triệu đồng: Nên đi kèm với cơ chế “mở khóa tức thời”

(PLO)- Chuyên gia cho rằng ngưỡng 1 triệu đồng nên đi kèm với quy trình xác minh nhiều tầng, đồng thời cần áp dụng cơ chế “mở khóa tức thời” cho người hoàn thành nghĩa vụ. 

Bộ Tài chính vừa gửi Bộ Tư pháp thẩm định dự thảo Nghị định hướng dẫn một số điều của Luật Quản lý thuế. Dự thảo Nghị định có đề xuất áp dụng lệnh tạm hoãn xuất cảnh đối với người nộp thuế không còn hoạt động tại địa chỉ đã đăng ký kinh doanh khi có khoản nợ từ 1 triệu đồng trở lên. Chế tài này sẽ được thực thi sau 30 ngày kể từ khi phát đi thông báo.

Đề xuất mới lập tức thu hút sự quan tâm của nhiều người dân, hộ kinh doanh và doanh nghiệp nhỏ, nhất là trong bối cảnh không ít trường hợp thay đổi nơi ở hoặc bỏ sót nghĩa vụ thuế mà không hay biết, dẫn đến nguy cơ bị áp dụng chế tài ảnh hưởng trực tiếp đến việc xuất cảnh.

Lo ngại nguy cơ hoãn xuất cảnh “oan”

Bà Nguyễn Thị Định, chủ cửa hàng tạp hóa trên đường Nguyễn Công Hoan, phường Cầu Kiệu, TP.HCM cho biết dù luôn cố gắng nộp thuế đúng hạn nhưng có lúc ứng dụng vẫn báo chậm nộp khiến bà khá hoang mang.

Cách kiểm tra có bị nợ thuế, tạm hoãn xuất cảnh hay không?

Để tiết kiệm thời gian, người dân có thể kiểm tra thông tin trên ứng dụng eTax Mobile thay vì phải đến trực tiếp cơ quan thuế.

Ngoài ra, người dân cũng có thể truy cập vào địa chỉ https://gdt.gov.vn/, bấm vào mục Dịch vụ công - Công khai cưỡng chế nợ thuế. Sau đó, người dùng chỉ cần nhập mã số thuế (số căn cước) và các thông tin cần thiết rồi nhấn Tìm kiếm.

MINH HOÀNG

Theo bà Định, nhiều hộ kinh doanh nhỏ hiện nay đã chuyển qua nộp thuế online nhưng không phải ai cũng rành công nghệ để kiểm tra, đối chiếu thông tin. Bà cho rằng việc siết quản lý là cần thiết, song cần xem xét các trường hợp phát sinh do lỗi hệ thống hoặc cập nhật dữ liệu chậm trước khi áp dụng biện pháp tạm hoãn xuất cảnh.

Tương tự, ông Lê Minh Hùng, chủ một salon làm tóc tại đường Huỳnh Văn Bánh, phường Phú Nhuận, TP.HCM chia sẻ đặc thù của các hộ kinh doanh nhỏ là thường xuyên thay đổi mặt bằng theo giá thuê. Có thời điểm tiệm của ông phải chuyển địa điểm liên tục vì chủ nhà lấy lại mặt bằng gấp, trong khi thủ tục cập nhật giấy phép và thông tin thuế không thể hoàn tất ngay.

“Nhiều hộ chỉ là chuyển đi nơi khác để tiếp tục làm ăn chứ không phải bỏ kinh doanh, nhưng nếu đối chiếu dữ liệu không kịp thì rất dễ bị xác định là không còn hoạt động tại địa chỉ đăng ký” - ông Hùng nói. Ông kiến nghị nên có bước xác minh thực tế hoặc thời gian bổ sung thông tin trước khi áp dụng các biện pháp mạnh liên quan đến xuất cảnh.

Cần xác minh chặt chẽ trước khi áp dụng biện pháp tạm hoãn xuất cảnh đối với người nộp thuế. Ảnh minh họa: VIẾT LONG

Cần nhìn ở góc độ quản lý hành vi

TS Phan Phương Nam, Phó Trưởng Khoa Luật Thương mại, Trường Đại học Luật TP.HCM, đánh giá đề xuất áp dụng tạm hoãn xuất cảnh với người nộp thuế nợ từ 1 triệu đồng nhưng không còn hoạt động tại địa chỉ đăng ký cho thấy tư duy quản lý đang chuyển từ việc nhìn vào giá trị khoản nợ sang quản lý theo rủi ro hành vi. Đây được xem là biện pháp mạnh nhằm xử lý tình trạng “doanh nghiệp ma”, hiện tượng “ve sầu thoát xác” gây thất thu ngân sách kéo dài. Việc hạ ngưỡng xuống mức tối thiểu sẽ tạo áp lực buộc người nộp thuế phải duy trì nghĩa vụ kê khai và kênh liên lạc chính thức với cơ quan quản lý.

Tuy nhiên, TS Nam cũng cho rằng quy định này có thể gây tranh luận khi hạn chế quyền tự do đi lại của công dân chỉ vì khoản nợ nhỏ. Do đó, ngưỡng 1 triệu đồng chỉ nên được áp dụng khi đi kèm quy trình xác minh nhiều tầng và hệ thống thông báo điện tử minh bạch qua email, tin nhắn định danh hoặc các nền tảng số khác. Nếu việc xác minh thiếu chặt chẽ, các sai sót trong xác định người nộp thuế còn hay không còn hoạt động tại địa chỉ đăng ký có thể ảnh hưởng tới quyền lợi chính đáng của người dân và môi trường kinh doanh.

TS Phan Phương Nam, Phó Trưởng Khoa Luật Thương mại, Trường Đại học Luật TP.HCM

Về việc xác định cá nhân hoặc doanh nghiệp “không còn hoạt động tại địa chỉ đăng ký”, theo TS Nam, cần dựa trên nguyên tắc xác minh ba bên và có bằng chứng vật chất rõ ràng. Cụ thể, cần lập biên bản xác minh thực địa với sự tham gia của cơ quan thuế, chính quyền địa phương và chủ mặt bằng hoặc ban quản lý tòa nhà. Việc xác minh phải thể hiện được cơ sở kinh doanh đã tháo dỡ biển hiệu, không còn tài sản hoặc đã có chủ thể khác sử dụng địa điểm, thay vì chỉ dựa trên ghi nhận đơn phương của cán bộ thuế.

Bên cạnh đó, cơ quan quản lý cũng cần chứng minh đã mất liên lạc với người nộp thuế thông qua các hình thức như thư bảo đảm bị trả lại, không phản hồi thông báo điện tử trên hệ thống eTax hoặc email định danh trong một khoảng thời gian nhất định. Trong bối cảnh số hóa hiện nay, việc tích hợp thông báo qua ứng dụng VNeID sẽ là căn cứ pháp lý quan trọng để xác định người nộp thuế đã nhận được thông tin nhưng cố tình không phản hồi. Quy trình này sẽ giúp phân biệt rõ giữa trường hợp gặp trục trặc hành chính với hành vi cố tình bỏ địa chỉ kinh doanh để trốn tránh nghĩa vụ thuế.

Theo TS Nam, việc áp dụng biện pháp tạm hoãn xuất cảnh đối với khoản nợ từ 1 triệu đồng có thể đặt ra tranh luận về nguyên tắc tương xứng giữa hành vi vi phạm và chế tài. Bởi quyền tự do đi lại là quyền hiến định, do đó việc hạn chế quyền này chỉ nên áp dụng khi hành vi vi phạm gây ra rủi ro lớn cho lợi ích công cộng hoặc tài chính. Với mức nợ 1 triệu đồng, đôi khi chỉ tương đương một khoản phạt chậm nộp hoặc hóa đơn dịch vụ nhỏ, việc ngăn chặn công dân xuất cảnh có thể bị xem là khá nghiêm khắc, ảnh hưởng đến uy tín và kế hoạch công tác của người nộp thuế.

Dù vậy, TS Nam cho rằng tính tương xứng của quy định cần được nhìn ở góc độ quản lý hành vi thay vì chỉ dựa vào giá trị khoản nợ. Với nhóm người nộp thuế không còn hoạt động tại địa chỉ đăng ký, khoản nợ 1 triệu đồng không phải yếu tố cốt lõi, mà là dấu hiệu cho thấy họ có hành vi cắt đứt liên lạc, né tránh nghĩa vụ với cơ quan quản lý. Vì vậy, chế tài tạm hoãn xuất cảnh trong trường hợp này không nhằm vào số tiền nợ lớn hay nhỏ, mà nhắm tới các trường hợp có dấu hiệu thiếu tuân thủ, cố tình bỏ địa chỉ kinh doanh để trốn tránh nghĩa vụ thuế.

Đề xuất cơ chế “mở khóa tức thời” lệnh hoãn xuất cảnh vì nợ thuế

Để hoàn thiện quy định, tôi đề xuất cơ quan quản lý chuyển từ tư duy cưỡng chế đồng loạt sang phân loại rủi ro dựa trên dữ liệu số. Theo đó, thay vì áp dụng cứng nhắc ngưỡng nợ 1 triệu đồng, cần thiết lập khoảng đệm về thời gian và cơ chế thông báo nhiều lớp trước khi áp dụng biện pháp cưỡng chế. Việc thông báo nên được thực hiện qua nhiều kênh như ứng dụng VNeID, tin nhắn điện thoại và email của người đại diện pháp luật.

Bên cạnh đó, cần kết nối với cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư để xác định chính xác nơi cư trú hiện tại của người nộp thuế, thay vì chỉ căn cứ vào địa chỉ kinh doanh đã bỏ trống. Điều này sẽ giúp giảm thiểu các trường hợp bị tạm hoãn xuất cảnh do sai sót cập nhật thông tin.

Ngoài ra, cần xây dựng cơ chế “mở khóa tức thời” thông qua cổng thanh toán trực tuyến 24/7. Theo đó, khi người nộp thuế hoàn tất nghĩa vụ tại sân bay hoặc cửa khẩu, hệ thống cần tự động gỡ bỏ lệnh tạm hoãn xuất cảnh trong thời gian ngắn thay vì phụ thuộc vào quy trình xử lý thủ công kéo dài. Giải pháp này vừa giúp thu hồi nợ thuế kịp thời, vừa bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người dân.

TS PHAN PHƯƠNG NAM, Phó Trưởng Khoa Luật Thương mại, Trường Đại học Luật TP. HCM

Đừng bỏ lỡ

Video đang xem nhiều

Đọc thêm

Đọc nhiều
Tiện ích
Tin mới