Biển Đông: Làm rõ 6 vấn đề về Công hàm Phạm Văn Đồng
(PL)- Công hàm Phạm Văn Đồng không thể được hiểu là một điều ước quốc tế hay thỏa thuận song phương có nội dung thừa nhận chủ quyền của Trung Quốc ở Biển Đông.

LTS: Sau loạt bài “Bẻ gãy luận điệu Trung Quốc ở Liên Hợp Quốc” (từ ngày 4 đến 6-5), tòa soạn nhận được một số ý kiến liên quan về nội dung và tính pháp lý của công hàm Phạm Văn Đồng năm 1958.

Pháp Luật TP.HCM tiếp tục trao đổi với ông Hoàng Việt, chuyên gia luật biển quốc tế và Biển Đông (ĐH Luật TP.HCM), để góp phần giải đáp một số vấn đề bạn đọc quan tâm về văn kiện này.

Chuyên gia Hoàng Việt khẳng định công hàm Phạm Văn Đồng (CHPVĐ) không thể hiện sự công nhận của Việt Nam (VN) đối với tuyên bố chủ quyền của Trung Quốc (TQ) ở hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

CHPVĐ không phải điều ước quốc tế

. Phóng viên: Có ý kiến cho rằng CHPVĐ là một văn bản pháp lý quốc tế thể hiện sự thỏa thuận giữa các bên và ràng buộc trách nhiệm của VN trong việc thừa nhận chủ quyền của TQ ở quần đảo Trường Sa, Hoàng Sa. Theo ông thì ý kiến này có đúng không?

Biển Đông: Làm rõ 6 vấn đề về Công hàm Phạm Văn Đồng - ảnh 1
 

+ Chuyên gia Hoàng Việt (ảnh): Cách hiểu này hoàn toàn sai. Trong luật quốc tế về hoạt động quan hệ quốc tế có quy định các loại văn bản pháp lý quốc tế để thể hiện các cam kết (promises) của các quốc gia với mức độ khác nhau. Trong số đó, các điều ước quốc tế (treaties) là loại văn bản có sự ràng buộc pháp lý cao nhất.

Ngoài ra còn có loại văn bản gọi là tuyên bố đơn phương của một quốc gia. Theo nghiên cứu “Sự cam kết của các quốc gia theo luật quốc tế” của chuyên gia luật quốc tế Christian Eckart, tuyên bố đơn phương của một quốc gia được hiểu là sự thể hiện đơn phương ý chí của một quốc gia thông qua một biểu lộ sự ủng hộ nào đó đối với bên khác. Vậy nên tuyên bố của Thủ tướng Phạm Văn Đồng là tuyên bố đơn phương. Tuyên bố ấy nhằm tỏ ý ủng hộ một tuyên bố trước đó của Thủ tướng TQ Chu Ân Lai về chiều rộng của lãnh hải là 12 hải lý trong bối cảnh TQ và các nước đang tranh cãi về chiều rộng của lãnh hải.

CHPVĐ không phải “hợp đồng” giữa VN và TQ

. Có luật sư cho rằng tuyên bố của Thủ tướng Phạm Văn Đồng 1958 đồng nghĩa với việc VN đã tham gia một hợp đồng mà TQ đã soạn sẵn trước đó, tức là tuyên bố lãnh hải của phía TQ trước đó. Ông nhận xét sao về ý kiến này?

+ Không đúng. Tuyên bố của Thủ tướng Phạm Văn Đồng chỉ là một tuyên bố đơn phương nên không thể ví như VN đã tham gia một hợp đồng (với phía TQ). Ngay cả phía TQ cũng chỉ viện dẫn tuyên bố của Thủ tướng Phạm Văn Đồng là một tuyên bố đơn phương mà thôi.

Hiểu đúng về “tuyên bố đơn phương”

. Có người cho là tuyên bố đơn phương của một nước có thể là nền tảng để nước đó thừa nhận hoặc phủ nhận một hệ quy chuẩn pháp luật quốc tế nhất định. Họ viện dẫn báo cáo Liên Hợp Quốc (LHQ) về các hành vi đơn phương trong quan hệ quốc tế do Rodriguez Cedeno thực hiện từ những năm 2000. Từ đó kết luận CHPVĐ vẫn làm phát sinh nghĩa vụ pháp lý bắt buộc của VN trong việc thừa nhận tuyên bố chủ quyền mà TQ áp cho Trường Sa, Hoàng Sa. Ông nói gì về suy luận này?

+ Cách suy luận này cũng không chính xác. Báo cáo của Rodriguez Cedeno chỉ là một trong chín bản thảo của Ủy ban Luật quốc tế của LHQ (gọi tắt là ILC) về vấn đề này. Sau 10 năm soạn thảo với chín bản dự thảo, bản dự thảo cuối cùng và được xem là chính thức của ILC hoàn tất năm 2006 và trình lên LHQ với tên gọi “Bản hướng dẫn các nguyên tắc áp dụng cho các tuyên bố đơn phương của các quốc gia, có khả năng tạo ra các nghĩa vụ pháp lý, với các chú giải kèm theo”.

Bản hướng dẫn này gồm 10 nguyên tắc kèm theo các chú giải cụ thể. Trong nguyên tắc số 1, “Các tuyên bố được thực hiện một cách công khai và biểu lộ ý chí trong đó có thể có hệ quả là tạo ra các nghĩa vụ pháp lý. Khi thấy rằng đủ thỏa mãn các điều kiện theo yêu cầu, tính chất ràng buộc của mỗi một tuyên bố phải được dựa trên nguyên tắc thiện chí;…”. Trong phần chú giải về nguyên tắc này, ILC đã viện dẫn án lệ theo phán quyết của Tòa án Công lý quốc tế (ICJ) với một số vụ án. Theo đó, ICJ rất cẩn trọng khi xem xét các tuyên bố: “Tất cả phải dựa trên ý chí của quốc gia trong vấn đề đó”.

Quan trọng không kém, trong phần chú giải nguyên tắc số 7, ILC nói rõ rằng: “Trong phán quyết của các thẩm phán trong vụ thử vũ khí hạt nhân, ICJ nhấn mạnh rằng một tuyên bố đơn phương có thể có hậu quả là tạo ra nghĩa vụ pháp lý đối với quốc gia đưa ra tuyên bố đơn phương đó, chỉ khi tuyên bố đơn phương đó đề cập một cách rõ ràng với các quy định cụ thể”. Như vậy, việc suy diễn tuyên bố đơn phương của Thủ tướng Phạm Văn Đồng năm 1958 theo kiểu của TQ - VN Dân chủ Cộng hòa (DCCH) thừa nhận chủ quyền của TQ ở Trường Sa, Hoàng Sa - là sai.

Không thể chứng minh VNDCCH có ý chí trong việc thừa nhận toàn bộ nội dung trong tuyên bố của Thủ tướng TQ Chu Ân Lai, dẫn đến việc thể hiện ý chí ấy trong tuyên bố đơn phương 1958. Ngoài ra, tuyên bố của Thủ tướng Phạm Văn Đồng không “đề cập một cách rõ ràng với các quy định cụ thể” vấn đề chủ quyền Trường Sa, Hoàng Sa.

Biển Đông: Làm rõ 6 vấn đề về Công hàm Phạm Văn Đồng - ảnh 2
Lực lượng hải quân Việt Nam kiên quyết bảo vệ chủ quyền ở Trường Sa. Ảnh: TTXVN

Thẩm quyền của Thủ tướng Phạm Văn Đồng

. Nhiều chuyên gia pháp lý đồng thuận rằng chỉ có Quốc hội VN mới có thể đưa ra các quyết định cao nhất về chủ quyền lãnh thổ. Tuy nhiên, có người dựa vào Công ước Viên về luật điều ước quốc tế năm 1969 cho rằng Thủ tướng Phạm Văn Đồng cũng có thẩm quyền khi xem xét CHPVĐ năm 1958. Ý kiến nào mới đúng, thưa ông?

+ Áp dụng Công ước Viên 1969 như vậy là sai. Thứ nhất, ngay trong Điều 1 của công ước này đã khẳng định: “Công ước này áp dụng cho các điều ước giữa các quốc gia”. Như vậy, tuyên bố của Thủ tướng Phạm Văn Đồng năm 1958 chỉ là tuyên bố đơn phương, không phải là một hiệp ước - đối tượng điều chỉnh của Công ước Viên. Thứ hai, Điều 4 của công ước này cũng quy định: “…Công ước này chỉ áp dụng đối với các điều ước đã được ký kết giữa các quốc gia sau khi công ước này có hiệu lực đối với các quốc gia đó”. Tuyên bố của Thủ tướng Phạm Văn Đồng có vào năm 1958, còn Công ước Viên ký kết năm 1969, có hiệu lực năm 1980. Do vậy, không thể tùy tiện viện dẫn Công ước Viên 1969 để giải thích tuyên bố của Thủ tướng Phạm Văn Đồng.

Cẩn trọng cách TQ trích dẫn án lệ

. Một số người dẫn các án lệ quốc tế, qua đó cho rằng CHPVĐ mang lại lợi thế cho TQ nếu Bắc Kinh muốn kiện VN. Bằng quan sát và nghiên cứu của mình, ông thấy sao?

+ Thực tế, việc sử dụng các án lệ quốc tế để giải thích tính pháp lý của tuyên bố của Thủ tướng Phạm Văn Đồng 1958 là có thể được. Tuy nhiên, phải lưu ý rằng tranh chấp Biển Đông là một trong những tranh chấp phức tạp bậc nhất trên thế giới. Có thể nói là chưa có một án lệ nào hoàn toàn giống tranh chấp Biển Đông, cho nên việc viện dẫn án lệ quốc tế đòi hỏi sự xem xét đầy đủ và thận trọng.

Ngoài ra, án lệ được coi là một nguồn bổ trợ trong luật quốc tế. Về mặt lý thuyết, theo quy định tại Điều 59 Quy chế Tòa án Công lý quốc tế, các thẩm phán không bắt buộc phải tuân thủ các án lệ trước đó. Tuy vậy, đặc biệt là với các án lệ của ICJ, các thẩm phán luôn có xu hướng tôn trọng. Nhiều học giả cho rằng với những vấn đề mới phát sinh thì cần phải phát triển các án lệ sau thông qua những học thuyết pháp lý mới.

Đặc biệt, các án lệ thường rất dài, có khi hàng trăm trang. Phải hiểu được tinh thần của án lệ thì mới trích dẫn đúng. Tuy nhiên, tôi thấy một số người chỉ trích dẫn vài dòng theo kiểu cắt xén, mục đích là suy diễn, minh họa quan điểm của họ, bất chấp việc trích dẫn là sai tinh thần của án lệ đó. Điều này thường thấy ở các học giả phía TQ.

. Xin cám ơn ông.

“Hải phận” lúc trước chính là “lãnh hải” trong luật quốc tế hiện hành

. Trong CHPVĐ có đoạn “Chính phủ nước VNDCCH ghi nhận và tán thành bản tuyên bố, ngày 4-9-1958, của chính phủ nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, quyết định về hải phận của TQ…”. Có người nói “hải phận” ở đây chính là toàn thể các vùng bao gồm cả Trường Sa và Hoàng Sa. Theo ông, phải hiểu sao mới đúng?

+ Hiểu vậy là suy diễn tùy tiện. Do ngôn ngữ VN thay đổi theo thời gian nên có người đã thấy khó hiểu về từ “hải phận”. Tuy nhiên, từ “hải phận” nằm trong bản tuyên bố của Thủ tướng Phạm Văn Đồng là để đáp lại tuyên bố phía TQ về chiều rộng lãnh hải của TQ là 12 hải lý mà phía TQ cũng gọi là hải phận. Hơn nữa, trong bản tuyên bố, Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã giải thích cụ thể: “Hải phận của TQ là 12 hải lý”. Theo đó, từ “hải phận” khi ấy chính là “lãnh hải” được quy định trong luật pháp quốc tế hiện nay. 

ĐỖ THIỆN thực hiện