Từ đơn hàng của Chính phủ đến khát vọng ‘Make in Vietnam’

(PLO)-Việc tập trung nguồn lực lớn và trao cơ chế đặc thù cho những sếu đầu đàn là chủ trương cần thiết để xây dựng năng lực cạnh tranh quốc gia.

Đây được xem là bước đi mang tính bước ngoặt, tạo không gian thị trường lớn để doanh nghiệp nội làm chủ công nghệ cao và xác lập vị thế.

​Để tránh rủi ro độc quyền và bài học từ những cú đấm thép cũ, cơ chế đặt hàng công phải đi đôi với tính minh bạch tài chính, tầm nhìn dài hạn và các điều kiện ràng buộc bắt buộc nhằm tạo hiệu ứng lan tỏa, nâng đỡ toàn bộ hệ sinh thái kinh tế cùng lớn mạnh.

Tạo không gian cho doanh nghiệp nội lớn mạnh

​Tại một hội thảo gần đây, ông Nguyễn Hoàng Bách, đại diện Cục Phát triển doanh nghiệp tư nhân và kinh tế tập thể (Bộ Tài chính) cho biết sẽ sớm ban hành thông tư hỗ trợ doanh nghiệp tiên phong thông qua cơ chế đặt hàng và cấp tín dụng. Cụ thể, thông tư dự kiến sẽ được ban hành ngay trong quý II-2026, với mục tiêu phát triển 1.000 doanh nghiệp tiên phong vào năm 2030.

​“Từ một cơ sở sản xuất kết cấu thép đơn giản, nhờ định hướng đúng đắn và các chính sách ưu đãi kịp thời của Đảng và Chính phủ, Đại Dũng đã bứt phá mạnh mẽ. Đến nay, chúng tôi hoàn toàn đủ năng lực sản xuất các sản phẩm siêu trường siêu trọng phục vụ công nghiệp nặng, hầm vượt biển, sân bay quốc tế và thắng thầu các công trình sân vận động lớn, các tổ hợp cao tầng đòi hỏi tiêu chuẩn khắt khe tại Nhật Bản và nhiều quốc gia phát triển. Điều này chứng minh rằng, nếu có bệ đỡ chính sách phù hợp, doanh nghiệp Việt hoàn toàn có thể làm chủ công nghệ cao”, ông Trịnh Tiến Dũng, Chủ tịch Tập đoàn Cơ khí Đại Dũng cho biết.

​Ông Dũng cũng khẳng định để tạo không gian thị trường cho doanh nghiệp cơ khí nội địa lớn mạnh, Chính phủ nên mạnh dạn áp dụng cơ chế đặt hàng, giao nhiệm vụ cho các doanh nghiệp tiên phong trong nước thực hiện các hạng mục cơ khí, kết cấu thép tại các dự án đầu tư công lớn. Thiết lập các rào cản kỹ thuật hợp pháp để ưu tiên sử dụng sản phẩm cơ khí "Make in Vietnam" có tỉ lệ nội địa hóa cao, thay vì phụ thuộc vào nhà thầu ngoại.

Nhà nước sẽ đặt hàng những bài toán lớn cho các doanh nghiệp tiên phong. Ảnh: PM

Theo giới phân tích, các hợp đồng với Chính phủ mang lại cơ hội đặc biệt và sự ổn định có thể tạo ra tác động thay đổi mang tính bước ngoặt đối với các doanh nghiệp. Các hợp đồng này cung cấp nhiều lợi thế vượt trội so với các hợp đồng thương mại truyền thống, từ việc thúc đẩy tăng trưởng cho đến duy trì tính bền vững trong dài hạn. Bằng cách giành được các hợp đồng này, doanh nghiệp có tiềm năng khai thác nguồn doanh thu ổn định và đa dạng, tiếp cận các thị trường hấp dẫn, đồng thời tận dụng đổi mới sáng tạo để đạt được thành công lâu dài.

​Lợi ích cốt lõi của các hợp đồng với Chính phủ bao gồm việc tiếp cận các thị trường, tính bền vững từ các hợp đồng dài hạn, cơ hội hợp tác và kết nối mạng lưới, tiềm năng mở rộng quy mô và tăng trưởng, khả năng tiếp cận nguồn vốn và tài trợ, cuối cùng là tác động xã hội và dịch vụ công.

​Tiến sĩ Chu Thanh Tuấn, Phó Chủ nhiệm nhóm ngành cử nhân Kinh doanh tại Đại học RMIT Việt Nam cho biết nhìn ra thế giới, mô hình đặt hàng đã giúp nhiều quốc gia bứt phá thành công và trở thành những con rồng kinh tế. Hãy nhìn vào câu chuyện của Hàn Quốc những năm 1960 với các Chaebol. Ban đầu, Chính phủ Hàn Quốc chỉ tập trung ưu tiên nguồn lực cho một số ngành nghề cốt lõi, từ đó nuôi dưỡng nên những tập đoàn khổng lồ như Samsung hay SK, tạo sức bật kéo toàn bộ nền kinh tế quốc gia đi lên. Hay câu chuyện của Đài Loan với TSMC trong ngành công nghiệp bán dẫn, một doanh nghiệp làm bệ đỡ cho cả một nền công nghiệp công nghệ cao của hòn đảo này.

​Theo ông Nguyễn Hoàng Hiệp, Giám đốc vận hành Công ty AI Hay, hiện Việt Nam đang có những nỗ lực phát triển trí tuệ nhân tạo (AI). Muốn tạo dựng các công ty Việt lớn mạnh trong lĩnh vực này không thể để họ đi một mình, mà rất quan trọng Nhà nước phải đặt hàng.

​Hợp đồng với Nhà nước đóng vai trò là đòn bẩy cho sự tăng trưởng và mở rộng quy mô của doanh nghiệp. Phạm vi rộng lớn và tính đa dạng của các dự án công đồng nghĩa với việc một hợp đồng thành công có thể mở đường cho các cơ hội quy mô lớn hơn trong tương lai. Điều này giúp doanh nghiệp tích lũy kinh nghiệm cùng uy tín cần thiết để cạnh tranh trong các dự án đầy tham vọng hơn khi họ hoàn thành xuất sắc các hợp đồng nhỏ trước đó.

​Về mặt tài chính, việc sở hữu một hợp đồng với nhà nước có thể cải thiện đáng kể vị thế của doanh nghiệp. Độ tin cậy của các hợp đồng này giúp doanh nghiệp trở nên hấp dẫn hơn trong mắt các tổ chức cho vay và các nhà đầu tư. Từ đó, doanh nghiệp được tạo điều kiện tiếp cận dễ dàng hơn với các khoản vay và tài trợ vốn theo những điều khoản ưu đãi.

Hiệu ứng lan tỏa

​“Tôi đánh giá rất cao việc Bộ Tài chính dự kiến ban hành Thông tư này. Đây là bước đi kịp thời và vô cùng cần thiết. Tuy nhiên, dưới góc nhìn tổng thể, chúng ta cần xem xét tác động lan tỏa từ cơ chế đặt hàng 1.000 doanh nghiệp tiên phong. Chính phủ cần xác định được những công ty đóng vai trò là máy kéo, có năng lực kéo theo hàng loạt các doanh nghiệp phụ trợ và thúc đẩy toàn bộ hệ sinh thái kinh tế đi lên. Nếu chọn một doanh nghiệp không có tính lan tỏa, dòng vốn đầu tư công và cơ chế tín dụng đặc thù sẽ không mang lại hiệu quả tối ưu cho tổng thể nền kinh tế”, vị chuyên gia Đại học RMIT nhận định.

​Theo ông Dũng, nên xem xét bài toán tổng thể lớn hơn. Chẳng hạn, ngành cơ khí công nghệ cao đòi hỏi đội ngũ kỹ sư, chuyên gia vật liệu và thợ kỹ thuật lành nghề đạt chuẩn quốc tế. Do đó, Chính phủ nên có chính sách đặt hàng đào tạo, cấp học bổng và kết hợp cùng doanh nghiệp xây dựng các chương trình đào tạo chuẩn hóa, đón đầu các công nghệ mới về chuyển đổi số, robot hóa và công nghiệp chế tạo xanh.

Cơ chế đặt hàng doanh nghiệp tiên phong của Nhà nước được kỳ vọng tạo ra hiệu ứng lan tỏa cho nền kinh tế. Ảnh: PM

Góc nhìn của ông Dũng được Tiến sĩ Tuấn đánh giá rất cao. Theo đó, việc tập trung nguồn lực lớn và trao cơ chế đặc thù cho 1.000 doanh nghiệp dẫn dắt là một chủ trương rất tốt. Dù vậy, bài toán đặt ra là phải làm sao để tổng thể nền kinh tế cùng đại đa số các doanh nghiệp nhỏ và vừa khác (SMEs) cùng được hưởng lợi, thay vì vô tình tạo ra những đặc quyền hay sự bất bình đẳng trong môi trường kinh doanh.

​"Tuy nhiên, để mô hình này thành công tại Việt Nam, sự đồng hành giữa Nhà nước và doanh nghiệp phải dựa trên hai trụ cột: tầm nhìn dài hạn và tính minh bạch. Cơ chế phân bổ nguồn lực, tín dụng và đơn đặt hàng công phải hoàn toàn minh bạch để xã hội thấy rõ tại sao doanh nghiệp đó được chọn, thế mạnh cốt lõi của họ là gì và họ đóng góp lại được gì cho nền kinh tế. Nếu thiếu tính minh bạch, một lượng lớn tài nguyên quốc gia sẽ bị hút vào một vài tập đoàn, gây thâm hụt nguồn lực của xã hội mà không tạo ra hiệu quả thực tế. Sự phát triển phải được đo lường bằng hiệu quả kinh tế theo từng giai đoạn cụ thể của thị trường", Tiến sĩ Chu Thanh Tuấn nhấn mạnh.

​Ông Nguyễn Mạnh Hùng, Chủ tịch Tập đoàn Nafoods, một doanh nghiệp trong lĩnh vực nông nghiệp chế biến cho biết bên cạnh đặt hàng hay các cơ chế tín dụng cho doanh nghiệp tiên phong, để có sự bứt phá mạnh mẽ của hệ thống doanh nghiệp nội địa, Nhà nước nên thiết lập cơ chế đồng tài trợ cùng các doanh nghiệp đầu ngành để triển khai các chương trình xúc tiến thương mại quy mô lớn mang tầm quốc tế. Đồng thời, tập trung xây dựng, định vị thương hiệu mang tính bản sắc quốc gia cho các ngành hàng có lợi thế cạnh tranh tuyệt đối của Việt Nam như chanh leo, xoài, cà phê, gạo, hồ tiêu... nhằm nâng cao giá trị bán hàng thay vì xuất khẩu vô danh.

​“Với sự đồng hành sát sao của Chính phủ, cùng ý chí tự cường của cộng đồng doanh nghiệp, Việt Nam hoàn toàn có thể trở thành trung tâm chế biến nông sản xanh, thông minh và bền vững của thế giới. Từ đó mang lại sự thịnh vượng cho đất nước, sự giàu có cho người nông dân và khẳng định vị thế, thương hiệu của con người Việt Nam trên trường quốc tế”, ông Hùng khẳng định.

​Theo các chuyên gia, để cơ chế đặt hàng tạo hiệu ứng lan tỏa cho nền kinh tế, hành lang pháp lý và các điều kiện ràng buộc đi kèm đóng vai trò quyết định. Đòi hỏi các doanh nghiệp tiên phong khi nhận đơn đặt hàng hay ưu đãi từ Chính phủ phải có nghĩa vụ chia sẻ lợi ích thông qua việc áp dụng tỉ lệ nội địa hóa và tích cực sử dụng hệ thống nhà cung ứng vệ tinh là các SMEs trong nước. Sự liên kết bắt buộc này không chỉ giúp phòng ngừa rủi ro độc quyền, tránh lặp lại bài học về các cú đấm thép thiếu hiệu quả trước đây, mà còn tạo ra hiệu ứng lan tỏa mạnh mẽ, thúc đẩy toàn bộ hệ sinh thái doanh nghiệp Việt Nam cùng nâng cao năng lực và phát triển đồng bộ.

Đừng bỏ lỡ

Video đang xem nhiều

Đọc thêm

Đọc nhiều
Tiện ích
Tin mới