Văn chương hạ giới

Bút ký hay của nhà văn, đạo diễn Võ Đắc Danh.

LÚA XUỒNG

“Lúa xuồng” – hai tiếng ấy không phải người nông dân nào nghe cũng hiểu, dân trí thức lại càng không hiểu vì nó không có trong từ điển, mà trong dân gian thì không phải miền quê nào cũng có. Tạm giải thích thế nầy: vùng Cà Mau quê tôi, ngày xưa, hơn ba mươi năm trở về trước – chớ không phải bây giờ – mỗi năm chỉ làm một mùa lúa, cấy vào tháng bảy, gặt vào tháng chạp, tức tháng 12 âm lịch. Mùa gặt, nước trên đồng còn ngập ngang đầu gối, khi bó xong một bó lúa, người thợ gặt phải bẻ co một gốc rạ làm đôi, cậm xuống nước, gọi là bẻ nống, sau đó quơ đầu những gốc rạ xung quanh chụm lại cái nống để đặt bó lúa lên, gọi là bẻ cò.


Gặt xong, để lúa bó phơn trên cò khoảng một tuần cho lúa thật khô, trong thời gian ấy, người chủ đất vác vá ra đồng, bứng gốc rạ thành những đường mươn nhỏ chi chít trên ruộng, gọi là đường xuồng. Đồng ngập không thể dùng trâu cộ lúa nên phải dùng xuồng ba lá len lõi theo những đường mươn ấy, vác từng bó lúa chất đầy xuồng rồi dùng sức người kéo vô nhà, gọi là lòi lúa, những bông lúa rụng trên xuồng, gọi lá lúa xuồng. Mỗi một mùa ruộng như vậy, sau khi đem lúa bó vô nhà, mỗi nhà gom được vài ba giạ lúa xuồng. Lúa xuồng dính nhiều bùn đất cho nên phải sàn, phải rửa cho sạch, phơi khô đem đi bán lấy tiền xài tết. Lúa bó đem về được chất thành ngố trên sân, ăn tết xong mới làm ra lúa hột.

Mỗi năm, cứ gần tết, chuẩn bị mua sắm là tôi lại nhớ đến lúa xuồng. Nhớ, là vì hồi ấy mẹ tôi có một quy ước, nếu lòi lúa kỹ lưỡng, biết nâng niu bó lúa, chất lên chất xuống nhẹ nhàng, không để lúa rụng nhiều thì mẹ tôi sẽ cho tôi phần lúa xuồng để xài tết. Bằng cách tính ấy, mẹ tôi đã dạy tôi rằng, muốn có tiền xài thì phải biết giữ gìn hạt lúa, không để chúng rơi vải, bởi, hạt lúa chính là giọt mồ hôi. Và, cũng chính vì vậy mà tôi hiểu được giá trị của những bộ quần áo mới, của bánh mứt, của thịt mỡ dưa hành, của đồng tiền trong ba ngày tết.

Những năm sau chiến tranh, được hưởng những cái tết thanh bình, không phải ăn tết dưới hầm tránh pháo, không phải ngồi canh nồi bánh tét mà lòng cứ phập phồng sợ đạn nổ bom rơi. Nhưng ngược lại, nền khinh tế quốc doanh đã làm cho thị trường khô kiệt, khô kiệt đến mức sản sinh ra cái nghề vá dép mủ, thậm chí dép mủ tái sinh mà phải vá đi vá lại mấy lần. Tôi cũng có một đôi dép như thế, vá đến lần thứ ba thì tôi đã ăn cắp được nghề. Nghĩa là chỉ cần một thỏi sắt đập dẹp một đầu, nung cho đỏ lên, đặt vào vị trí cái quay dép đứt, phía trên ép xuống một thỏi cao su – cũng lấy từ một quay dép đứt khác – ép cho thật khéo, vuốt cho thật khéo, quay dép đứt sẽ lành lại, mang thêm được vài tuần.

Năm ấy, tết gần đến, tôi quyết định mót lúa xuồng để mua đôi dép mới thay cho đôi dép cũ đã vá đi vá lại nhiều lần. Nhưng, dường như năm đó lúa chín muộn cho nên đến ngày ba mươi tết mà tôi vẫn còn í ạch đi lòi lúa. Khi chuyến lúa cuối cùng đem vào sân thì trời đã xế chiều. Tôi vội vã vét lúa xuồng mang ra ao dạo cho sạch đất rồi trãi chiếu ra phơi, phơi thật mỏng cho mau khô rồi mang đi bán. Bán xong, tôi mượn chiếc xe đạp của thằng bạn chạy một hơi ra cửa hàng bách hóa của công ty thương nghiệp huyện. Nhưng than ôi, cửa hàng đóng cửa. Tôi cầm mấy đồng bạc trên tay mà muốn rưng nước mắt. Ra chợ trời thì không có dép nhựa tái sinh, dép nhựa tốt thì không đủ tiền mua, dép da, dép Lào thì tôi chưa bao giờ mơ tới.

Đạp xe về nhà, thấy mẹ tôi đang nướng bánh bông lan. Sẵn lửa than trong bếp, tôi lấy “đồ nghề” ra tiếp tục vá đôi dép đứt quay. Mẹ tôi lặng nhìn tôi rồi quay đi chổ khác, tôi cố nghĩ rằng khói bếp cay cay làm cho mẹ tôi chảy nước mắt.

Sáng mồng một tết, bạn bè tới nhà, mẹ tôi cười vui khi thấy nhiều thằng bạn tôi cũng mang dép vá chớ không phải một mình tôi.

XE ĐẠP CỬU LONG

Nghỉ hè năm lớp tám, bổng dưng mẹ tôi hỏi: “Mầy muốn có chiếc xe đạp để đi học không ?”.

Ơ trọ, mỗi chiều thứ bảy lội bộ về nhà hơn mười cây số, chiều chủ nhật lội đi cũng thế. Tôi nghĩ, người ta mơ lên cung trăng bao nhiêu thì tôi mơ có chiếc xe đạp bấy nhiêu. Có xe đạp, chẳng những tôi sẽ không ở trọ mà còn có thể làm ra tiền bằng cách chở nước đá thẻ từ ngòai chợ đem về bỏ mối cho mấy quán nước mía trong xóm. Hồi ấy, nước đá do nhà nước độc quyền sản xuất để phân phối cho các cửa hàng ăn uống quốc doanh. Chổ tôi ở trọ là khu nhà của sĩ quan quân đội, được ưu tiến cấp điện từ sáu giờ chiều đến sáu giờ sáng, cho nên nhiều người dùng tủ lạnh cải tiến để sản xuất nước đá thẻ. Tôi nghĩ, nếu có xe đạp, chỉ cần mỗi ngày một chuyến, tôi có thể kiếm được vài đồng.

Nghe mẹ tôi hỏi, tôi mừng thầm trong bụng vì biết tính bà không khi nào gieo cho tôi một niềm hy vọng mỏng manh dù rất nhỏ. Nhưng nhìn đi nhìn lại, trong nhà không có nguồn thu nhập nào ngòai hạt lúa và những đôi chiếu do mẹ tôi dệt lúc nông nhàn, mà những thứ ấy thì cùng lắm chỉ đủ tiền trọ cho tôi. Có lẽ, bà đang có một kế họach gì đây.

Sáng hôm sau, mẹ tôi nấu cơm thật sớm. An xong, bà bảo tôi vác dá xuống xuồng, bơi xuống đầu voi bên kia sông, chổ khu đất hoang mà ông cậu, em của bà ngọai tôi giao lại mấy năm nay. Ơ đó, ngòai những bờ liếp mọc tòan bình bát, trâm bầu, có khỏang một công đất trống trũng sâu, nước phèn đặc óanh, năn bột mọc um tùm. Mẹ tôi bảo: “ Mình đào mươn cho rỏ phèn để lên liếp trồng lát, chiếc xe đạp của mầy đang ở dưới đó”. Hóa ra là như vậy. Tôi hì hục đào mươn, chiều ngang ba mét, chiều sâu hai lớp dá, mẹ tôi dùng cuốc bang đất ra cho bằng phẳng. Gần một tháng sau, một công đất hoang đã thành sáu bờ liếp cao ráo chạy dài. Đầu mùa mưa năm ấy, mẹ tôi đi nhổ mấy xuồng lát non về cấy xuống, rồi làm cỏ, bón phân. Một đám lát mọc lên, lớn nhanh như thổi. Gần cuối năm ấy, tôi nhập học được vài tháng thì mẹ tôi nói: “Dì Ba đã mua đám lát của mình với giá hai trăm năm chục đồng”.

Hai trăm năm chục đồng, chiếc xe đạp Cửu Long, nếu có quen biết với công ty thương nghiệp huyện, giá hai trăm bốn mươi bảy đồng. Chuyện nhỏ, tôi chạy lên người chị bà con làm ở bưu điện huyện nhờ xin cái giấy giới thiệu. Chiều hôm ấy, tôi đạp xe từ huyện về nhà mà cứ ngỡ như mơ. Rồi mọi chuyện “làm ăn” diễn ra như tôi dự tính: Tan học, tôi chạy sang nhà chú Ba Sánh ở khu gia binh, lấy bốn thẻ nước đá vô bao, vắt ngang phorbara, đạp về giao cho hai xe nước mía ở đầu xóm, mỗi ngày kiếm được hai đồng.

*

Đây chỉ là hai trong hàng trăm câu chuyện của một đọan đời nghèo khó nhọc nhằn của hai kiếp nông dân và thư sinh tồn tại song song trong một con người. Song, cuộc đời cũng có những chuyện cần quên nhưng cũng có những chuyện không thể nào quên, không thể được quên dù rất nhỏ, dù thời gian đã hai ba chục năm dài. Ngày tôi rời quê ra đi, mẹ tôi ngậm ngùi than vãn: “Chọn chi cái nghề khổ ải. Văn chương hạ giới rẻ như bèo”.

Nhưng bây giờ, một bài báo có thể mua được vài mươi giạ lúa, vài chiếc xe đạp Cửu Long, nghĩa là bằng vài công lác chiếu. Với những người cầm bút, có thể đó là việc bình thường, nhưng với tôi, nếu không bắt đầu từ những hạt lúa xuồng, nếu không bắt đầu từ vũng đất phèn mà mẹ tôi bảo chiếc xe đạp Cửu Long nó nằm dưới đó, thì có thể, rất có thể sẽ không có sự bắt đầu nào khác. Tôi luôn luôn nghĩ vậy.

Theo Võ Đắc Danh (vannghesongcuulong.org.vn)

nguyenty

Đừng bỏ lỡ

Video đang xem nhiều

Đọc thêm