Dự thảo nghị định hướng dẫn một số điều của Luật Quản lý thuế vừa được Bộ Tài chính gửi Bộ Tư pháp thẩm định. Điểm đáng chú ý là nội dung về tạm hoãn xuất cảnh đối với người nợ thuế quá hạn, trong đó bổ sung trường hợp nợ từ 1 triệu đồng cũng có thể bị áp dụng biện pháp này.
Cụ thể trong dự thảo, Bộ Tài chính đề xuất bổ sung quy định tạm hoãn xuất cảnh với người nộp thuế không còn hoạt động tại địa chỉ đã đăng ký, có số nợ thuế từ 1 triệu đồng trở lên.
Theo đó, cá nhân kinh doanh, chủ hộ kinh doanh, chủ sở hữu hưởng lợi của doanh nghiệp, người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp, hợp tác xã… nếu không còn hoạt động tại địa chỉ đã đăng ký, có số nợ thuế từ 1 triệu đồng trở lên, sau 30 ngày kể từ khi cơ quan thuế thông báo mà người nộp thuế chưa nộp đủ tiền thuế nợ thì sẽ bị tạm hoãn xuất cảnh.
Đề xuất trên của Bộ Tài chính xuất phát từ thực tế số lượng lớn người nộp thuế "biến mất" khỏi địa chỉ đăng ký kinh doanh nhưng vẫn còn nợ thuế.
Cân nhắc điều chỉnh ngưỡng nợ thuế và thêm tiêu chí đánh giá rủi ro
Hiện đề xuất này đang gây nhiều luồng tranh luận khác nhau. Ông Nguyễn Quang Huy, CEO khoa Tài chính Ngân hàng (Trường Đại học Nguyễn Trãi) đánh giá đề xuất tạm hoãn xuất cảnh đối với người nộp thuế không còn hoạt động tại địa chỉ đã đăng ký và còn nợ thuế quá hạn thể hiện nỗ lực của cơ quan quản lý trong việc tăng cường kỷ cương, nâng cao hiệu quả thu ngân sách.
Theo thống kê, cả nước đang có khoảng 963.500 trường hợp thuộc diện này, gồm 325.500 doanh nghiệp và 638.000 hộ kinh doanh, với tổng số tiền nợ lên tới 32.130 tỉ đồng.
Đáng chú ý, có tới 496.200 người nộp thuế có số nợ dưới 1 triệu đồng (chiếm 51,5%), nhưng tổng số tiền chỉ khoảng 66 tỉ đồng.
Tính đến nay, khoảng 65.000 người nộp thuế đã bị tạm hoãn xuất cảnh. Trong đó hơn 7.100 người đã liên hệ cơ quan thuế để nộp tiền và được hủy bỏ biện pháp này.
"Đây là định hướng cần thiết trong bối cảnh thực tiễn phát sinh những trường hợp khó kiểm soát nghĩa vụ thuế khi người nộp thuế không còn hiện diện tại địa chỉ đăng ký" - ông Huy nói.
Từ góc nhìn chính sách, có thể thấy tinh thần xuyên suốt là chủ động phòng ngừa rủi ro, bảo đảm nghĩa vụ được thực hiện đầy đủ và kịp thời.
Tuy nhiên, để quy định khi ban hành đạt được sự đồng thuận cao và vận hành hiệu quả, việc tiếp cận theo hướng tinh tế, phân tầng và hỗ trợ tuân thủ sẽ giúp chính sách phát huy tối đa giá trị.
Trước hết, về ngưỡng nợ thuế, việc quy định ở mức thấp giúp mở rộng phạm vi quản lý nhưng trong thực tiễn, những khoản nợ nhỏ có thể phát sinh từ yếu tố kỹ thuật hoặc những gián đoạn tạm thời trong hoạt động kinh doanh. Vì vậy, có thể cân nhắc điều chỉnh ngưỡng theo hướng hợp lý hơn hoặc kết hợp thêm tiêu chí đánh giá rủi ro, nhằm bảo đảm biện pháp được áp dụng đúng đối tượng, đúng tính chất.
Bên cạnh đó, nên thiết lập cơ chế cảnh báo sớm mang tính hỗ trợ, tạo điều kiện để người nộp thuế kịp thời nhận biết và khắc phục trước khi phát sinh các biện pháp mạnh hơn.
Ông Huy kiến nghị trong thời gian ngắn sau khi phát sinh nợ quá hạn, hệ thống phải tự động gửi thông tin nhắc nhở qua các kênh điện tử như tin nhắn và email với nội dung rõ ràng, dễ tiếp cận.
Ở giai đoạn tiếp theo, cán bộ thuế có thể chủ động liên hệ, trao đổi nhằm nắm bắt tình hình và hướng dẫn xử lý phù hợp. Nếu nghĩa vụ vẫn chưa được thực hiện, việc gửi thông báo chính thức và tiến hành xác minh thực tế sẽ giúp làm rõ tình trạng hoạt động, từ đó có cơ sở đánh giá chính xác hơn.
"Cách tiếp cận này vừa bảo đảm tính nghiêm túc của pháp luật, vừa thể hiện sự đồng hành, tạo điều kiện để người nộp thuế thực hiện nghĩa vụ trong điều kiện thuận lợi nhất" - ông Huy nhấn mạnh.
Đồng thời, việc xây dựng các cơ chế linh hoạt như cho phép giải trình, nộp dần hoặc khắc phục trong thời gian hợp lý cũng là yếu tố quan trọng. Điều này không chỉ góp phần giảm áp lực cho doanh nghiệp mà còn khuyến khích tinh thần hợp tác, tự giác tuân thủ.
Ông Huy cho rằng khi các quy định được thiết kế với lộ trình rõ ràng, tiêu chí minh bạch và cách thức triển khai linh hoạt, người nộp thuế sẽ dễ dàng thích ứng và chủ động thực hiện nghĩa vụ của mình.
"Có thể kỳ vọng với sự hoàn thiện theo hướng này, quy định tạm hoãn xuất cảnh sẽ không chỉ là một công cụ quản lý hiệu quả, mà còn góp phần củng cố niềm tin, tạo nền tảng cho một hệ thống thuế hiện đại, minh bạch và bền vững" - ông Huy nói.
Ngưỡng 1 triệu đồng là khắt khe?
Còn theo ông Tuấn Vũ, chủ một nhà hàng trên đường Phan Kế Bính (Hà Nội), việc áp dụng biện pháp tạm hoãn xuất cảnh với ngưỡng 1 triệu đồng là quá khắt khe.
Ông Tuấn cho rằng cần phân loại theo các ngưỡng khác nhau thay vì áp dụng một mức chung. “Nợ 1 triệu đồng và nợ hàng trăm triệu, hàng tỉ đồng mà áp dụng cùng một biện pháp là chưa hợp lý, dễ dẫn tới cào bằng và gây thiệt thòi cho người nợ số tiền nhỏ" - ông Tuấn nhận xét.
Theo ông, nên cân nhắc nâng ngưỡng áp dụng, có thể từ vài chục triệu đồng, 100 triệu đồng hoặc cao hơn. Đồng thời, chỉ nên áp dụng biện pháp tạm hoãn xuất cảnh khi người nộp thuế có dấu hiệu chây ì, cố tình không thực hiện nghĩa vụ sau nhiều lần nhắc nhở.
Ngoài ra, nên kéo dài thời gian thông báo 60 ngày trước khi áp dụng biện pháp này. Hơn nữa việc thông báo áp dụng các biện pháp cưỡng chế thuế nên tương tự ứng dụng ngân hàng thông báo biến động số dư. Người dân có thể nhận được ngay lập tức.
"Ngoài hình thức gửi thông tin trên ứng dụng eTax Mobile, thông báo tạm hoãn xuất cảnh có thể gửi qua tài khoản VNeID để người dân biết và kịp thời nộp thuế, tránh tình trạng ra sân bay mới biết bị tạm hoãn xuất cảnh do nợ thuế" - ông Vũ đề xuất.
Đồng quan điểm, ông Nguyễn Ngọc Tú - Chuyên gia thuế cho rằng mức 1 triệu đồng quá thấp, nên áp dụng thống nhất ngưỡng 50 triệu đồng với cá nhân và 500 triệu đồng với doanh nghiệp, hợp tác xã.
Riêng với người nước ngoài về nước, người Việt Nam xuất cảnh để định cư ở nước ngoài, chỉ cần vẫn còn nợ thuế thì có thể áp dụng ngay biện pháp này.
Cần thiết kế cơ chế linh hoạt hơn
Trao đổi với PV, luật sư Trương Thanh Đức - Trọng tài viên Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam cho rằng thực tế hiện nay, phần lớn các trường hợp phát sinh nghĩa vụ thuế nhỏ lẻ không xuất phát từ hành vi trốn thuế hay gian lận có chủ đích.
Những khoản nợ thuế rất nhỏ, chỉ vài trăm ngàn đến dưới 1 triệu đồng, chủ yếu phát sinh từ các nghĩa vụ phụ như lệ phí môn bài, chậm báo cáo…
Đây là những khoản mang tính vô ý nhiều hơn là cố tình. Cần phân loại rõ trường hợp cố tình, tái phạm để xử lý nghiêm; còn trường hợp sơ suất, giá trị nhỏ áp dụng chế tài nhẹ, phù hợp…
Trên thực tế, người dân, doanh nghiệp có thể không nhận được thông tin để thực hiện nghĩa vụ do chia tách địa giới, thay đổi tên phường... Thông báo không đến nơi, không nhận được phản hồi chưa thể coi là dấu hiệu người nộp thuế trốn tránh.
Luật sư Trương Thanh Đức-Trọng tài viên Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam
Theo luật sư Đức, việc áp dụng biện pháp mạnh như tạm hoãn xuất cảnh với các khoản nợ thuế nhỏ là sự can thiệp lớn đến quyền dân sự, trong khi tính chất vi phạm lại không tương xứng.
Do đó, thay vì áp dụng biện pháp “chặn cứng”, cần thiết kế cơ chế linh hoạt hơn. Ví như cho phép nộp ngay tại chỗ khi phát sinh nghĩa vụ; cập nhật dữ liệu theo thời gian thực; đảm bảo người dân được thông báo đầy đủ trước khi áp dụng chế tài.
“Cần có lộ trình phù hợp, hoàn thiện hạ tầng quản lý trước khi áp dụng các biện pháp chế tài mạnh” - ông Đức khuyến nghị.
Ngoài đề xuất trên, dự thảo nghị định cũng giữ nguyên các trường hợp bị tạm hoãn xuất cảnh như hiện hành. Đó là cá nhân kinh doanh, chủ hộ kinh doanh nợ thuế từ 50 triệu đồng trở lên, quá hạn trên 120 ngày.
Cá nhân là chủ sở hữu hưởng lợi của doanh nghiệp; người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã nợ thuế từ 500 triệu đồng trở lên, quá hạn trên 120 ngày.
Cá nhân là người nước ngoài, là người Việt Nam xuất cảnh để định cư ở nước ngoài, hoặc người Việt Nam định cư ở nước ngoài trước khi rời Việt Nam có nợ thuế quá hạn.