Kế hoạch thu hồi đất, giá đất, phương án bồi thường... phải công khai cho dân biết

(PLO)- Luật Tiếp cận thông tin sửa đổi mở rộng phạm vi thông tin phải công khai; bổ sung các nhóm thông tin quan trọng, gắn trực tiếp với đời sống dân sinh, hoạt động sản xuất, kinh doanh của người dân và doanh nghiệp.

0:00 / 0:00
0:00
  • Nam miền Bắc
  • Nữ miền Bắc
  • Nữ miền Nam
  • Nam miền Nam

Chiều 23-4, Quốc hội thông qua Luật Tiếp cận thông tin sửa đổi, với 492/493 đại biểu có mặt tham gia biểu quyết tán thành. Luật này có hiệu lực thi hành từ 1-9-2026.

Liên quan đến phạm vi và trách nhiệm cung cấp thông tin, Luật quy định đơn vị đầu mối do UBND cấp xã xác định có trách nhiệm cung cấp cho công dân cư trú trên địa bàn thông tin do HĐND, Thường trực HĐND, các cơ quan của HĐND, UBND, Chủ tịch UBND, các cơ quan chuyên môn, tổ chức hành chính khác của cấp mình tạo ra và thông tin do mình tạo ra; cung cấp cho công dân khác thông tin này trong trường hợp liên quan trực tiếp đến quyền và lợi ích hợp pháp của họ.

Quoc-hoi-thong-qua-Luat-Tiep-can-thong-tin-sua-doi.jpeg
Quốc hội thông qua Luật Tiếp cận thông tin sửa đổi, với 492/493 đại biểu có mặt tham gia biểu quyết tán thành. Ảnh: QH

Trước đó, trình bày báo cáo tiếp thu, giải trình, chỉnh lý dự thảo Luật, Bộ trưởng Bộ Tư pháp Hoàng Thanh Tùng cho hay đối với UBND cấp xã, Luật chỉ quy định trách nhiệm cung cấp thông tin do mình tạo ra, không bao gồm thông tin do tiếp nhận từ cơ quan khác (trừ một số trường hợp luật định).

Quy định nói trên, theo ông Hoàng Thanh Tùng, nhằm bảo đảm tính hợp lý, khả thi trong bối cảnh sắp xếp, mở rộng chức năng, nhiệm vụ của cấp xã.

Cạnh đó, Luật cũng đồng thời tăng cường phân cấp, phân quyền khi giao UBND cấp tỉnh, cấp xã chủ động xác định đầu mối cung cấp thông tin, tạo sự linh hoạt trong tổ chức thực hiện.

Về tiếp cận một phần hồ sơ, tài liệu, Luật đã bổ sung quy định cơ quan, đơn vị phải rà soát, phân loại thông tin trước khi cung cấp, bảo đảm tách bạch rõ phần thông tin được tiếp cận và không được tiếp cận.

Luật cũng quy định theo hướng mở rộng phạm vi thông tin phải công khai, thông qua việc liệt kê và bổ sung các nhóm thông tin quan trọng, gắn trực tiếp với đời sống dân sinh, hoạt động sản xuất, kinh doanh của người dân và doanh nghiệp.

Cụ thể, Luật liệt kê 21 nhóm thông tin “phải được công khai”, đáng chú ý có chiến lược, chương trình, dự án, đề án, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia, địa phương; chương trình, kế hoạch công tác hằng năm của cơ quan, đơn vị; báo cáo công tác định kỳ; cơ sở dữ liệu quốc gia ngành, lĩnh vực; thông tin thống kê về ngành, lĩnh vực quản lý.

Danh mục này còn bao gồm văn bản quy phạm pháp luật; văn bản hành chính có giá trị áp dụng chung; điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên, thỏa thuận quốc tế mà Việt Nam là một bên; thủ tục hành chính, quy trình giải quyết công việc của cơ quan, đơn vị…

Kết luận thanh tra; báo cáo về công tác phòng, chống tham nhũng; báo cáo kiểm toán sau khi phát hành, báo cáo kết quả thực hiện kết luận, kiến nghị kiểm toán của Kiểm toán Nhà nước sau khi báo cáo Quốc hội; báo cáo kết quả công tác tiết kiệm, chống lãng phí; kết quả xử lý hành vi gây lãng phí…

Thông tin việc xử phạt vi phạm hành chính về an toàn thực phẩm, chất lượng sản phẩm, hàng hóa, dược, lao động, xây dựng, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo vệ môi trường, thuế, chứng khoán, sở hữu trí tuệ, đo lường, sản xuất, buôn bán hàng giả mà gây hậu quả lớn hoặc gây ảnh hưởng xấu về dư luận xã hội; thông tin về việc người sử dụng lao động chậm đóng, trốn đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm thất nghiệp cũng nằm trong nhóm thông tin phải được công khai.

Cùng với đó là thông tin về quy hoạch cấp quốc gia, quy hoạch vùng, quy hoạch tỉnh, quy hoạch chi tiết ngành, quy hoạch đô thị và nông thôn, quy hoạch đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt.

Thông tin về kế hoạch sử dụng đất; giá đất; thu hồi đất; phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư liên quan đến dự án, công trình trên địa bàn; kết quả điều tra, đánh giá đất đai; quyết định cưỡng chế thực hiện quyết định kiểm đếm bắt buộc; mốc giới sử dụng đất trong hành lang bảo vệ an toàn.

Thông tin về sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ có tác động tiêu cực đến sức khỏe, môi trường; kết luận kiểm tra, giám sát liên quan đến việc bảo vệ môi trường, sức khỏe của cộng đồng, an toàn thực phẩm, an toàn lao động; kết quả đánh giá chất lượng cơ sở khám bệnh, chữa bệnh…

Đối với các thông tin không được liệt kê nhưng pháp luật chuyên ngành có quy định phải công khai, Luật xác định tiếp tục thực hiện theo quy định của pháp luật chuyên ngành.

“Cách tiếp cận này vừa bảo đảm tính đầy đủ, vừa tránh trùng lặp, đồng thời duy trì tính linh hoạt của hệ thống pháp luật” - ông Hoàng Thanh Tùng cho biết.

Thông tin công dân không được tiếp cận

1. Thông tin thuộc bí mật nhà nước theo quy định của pháp luật về bảo vệ bí mật nhà nước. Khi thông tin thuộc bí mật nhà nước được giải mật thì công dân được tiếp cận theo quy định của Luật này.

2. Thông tin về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình theo quy định của pháp luật dân sự và dữ liệu cá nhân theo quy định của pháp luật về bảo vệ dữ liệu cá nhân, trừ trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 16 của Luật này.

3. Bí mật kinh doanh theo quy định của pháp luật về sở hữu trí tuệ, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 16 của Luật này.

4. Thông tin mà nếu cung cấp sẽ gây nguy hại đến lợi ích của Nhà nước, ảnh hưởng đến quốc phòng, an ninh quốc gia, đối ngoại, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng, gây nguy hại đến tính mạng, sức khỏe, quyền và lợi ích hợp pháp hoặc tài sản của người khác.

Việc xác định thông tin nêu trên thực hiện theo quy định của pháp luật có liên quan. Trường hợp pháp luật chưa quy định, căn cứ vào điều kiện thực tiễn, người đứng đầu cơ quan, đơn vị có trách nhiệm xem xét, quyết định việc cung cấp thông tin.

5. Thông tin thuộc bí mật công tác do cơ quan, đơn vị xác định theo quy định của pháp luật.

6. Thông tin về cuộc họp nội bộ của cơ quan, đơn vị; tài liệu do cơ quan, đơn vị soạn thảo cho công việc nội bộ.

Điều 15 Luật Tiếp cận thông tin (sửa đổi)

Đừng bỏ lỡ

Video đang xem nhiều

Đọc thêm