Bộ GD&ĐT vừa công bố Dự thảo Quy chế tuyển sinh đại học (ĐH) năm 2026 để lấy ý kiến góp ý rộng rãi từ các cơ sở đào tạo, chuyên gia và xã hội trước khi ban hành chính thức.
So với quy định hiện hành, dự thảo đề xuất nhiều điều chỉnh quan trọng, trong đó có tám điểm thay đổi lớn tác động trực tiếp đến phương thức xét tuyển, tổ hợp môn, điểm cộng và quyền đăng ký nguyện vọng của thí sinh.
Ủng hộ xiết điểm học bạ bằng xét thêm điểm thi tốt nghiệp THPT
Về vấn đề này, Thạc sĩ Phạm Thái Sơn, Giám đốc Trung tâm Tuyển sinh và Truyền thông Trường ĐH Công Thương TP.HCM, đánh giá điểm tích cực nổi bật của dự thảo là việc lần đầu quy định rõ ngưỡng điểm sàn chung đối với phương thức xét tuyển bằng học bạ THPT. Theo dự thảo, thí sinh sử dụng kết quả học tập để xét tuyển vào các ngành ĐH thông thường phải có tổng điểm ba môn thi tốt nghiệp THPT đạt tối thiểu 16 điểm theo thang điểm 30. Quy định này, theo ông Sơn, giúp kiểm soát chất lượng đầu vào và khắc phục tình trạng xét tuyển học bạ quá dễ dãi như thời gian qua.
Ông Sơn cũng đặc biệt đồng tình với các quy định liên quan đến chứng chỉ ngoại ngữ. Dự thảo nêu rõ trọng số điểm môn ngoại ngữ sau khi quy đổi từ chứng chỉ quốc tế không được vượt quá 1/3 tổng điểm xét tuyển, đồng thời yêu cầu các trường ĐH phải xây dựng bảng quy đổi với tối thiểu năm mức điểm chênh lệch. So với năm trước, khi phần lớn các trường chỉ áp dụng ba đến bốn mức quy đổi, quy định mới được đánh giá là chi tiết hơn, góp phần hạn chế sự chênh lệch quá lớn giữa các mức điểm và bảo đảm công bằng cho thí sinh.
Đáng chú ý, ông Sơn hoàn toàn ủng hộ quy định chứng chỉ ngoại ngữ chỉ được sử dụng theo một trong hai cách: Quy đổi sang điểm môn tiếng Anh; dùng làm điểm thưởng hoặc điểm khuyến khích. Việc không cho phép “vừa quy đổi, vừa cộng điểm” được xem là giải pháp quan trọng nhằm chấm dứt tình trạng thí sinh được hưởng lợi hai lần từ cùng một loại chứng chỉ, như đã xảy ra ở một số cơ sở đào tạo trước đây. Theo ông, quy định này giúp xác định rõ giới hạn điểm tối đa mà thí sinh có thể đạt được từ chứng chỉ ngoại ngữ trong tổng điểm xét tuyển.
Bên cạnh đó, ông Sơn cho rằng dự thảo quy chế năm 2026 có nhiều điểm tiến bộ so với năm trước, đặc biệt là về lộ trình và tính minh bạch. Các cơ sở đào tạo buộc phải công bố công khai việc điều chỉnh phương thức tuyển sinh trước ít nhất 12 tháng, tạo điều kiện để thí sinh có thời gian chuẩn bị phù hợp. Đồng thời, từ năm 2026, các kỳ thi riêng do các trường ĐH tổ chức và các kỳ thi độc lập như đánh giá năng lực, đánh giá tư duy sẽ phải được đối sánh hằng năm với kết quả học tập của sinh viên sau ba năm để kiểm chứng độ tin cậy.
Liên quan đến quy định quy đổi điểm tương đương giữa các phương thức xét tuyển, ông Sơn cho biết nội dung này tiếp tục được duy trì trong dự thảo và được làm rõ hơn thông qua thuật ngữ “độ lệch điểm”, thay vì cách hiểu theo bách phân vị như trước. Theo ông, nếu Bộ GD&ĐT trực tiếp quy định hoặc hướng dẫn cụ thể về độ lệch điểm, việc quy đổi sẽ minh bạch và thống nhất hơn, tránh tình trạng mỗi trường áp dụng một cách khác nhau, dẫn đến mức quy đổi cao – thấp không đồng đều như những năm trước.
Cần cân nhắc lại việc giới hạn điểm cộng thành phần
Thạc sĩ Vũ Đình Lê, Phó trưởng phòng phụ trách Phòng Tư vấn tuyển sinh Trường ĐH Luật TP.HCM, cho rằng Dự thảo Quy chế tuyển sinh ĐH năm 2026 thể hiện việc Bộ GD&ĐT đã lắng nghe nhiều ý kiến từ các trường, phụ huynh và thí sinh, nên về tổng thể, các điều chỉnh đều phù hợp với xu hướng chung. Tuy nhiên, ông cũng chỉ ra một số vấn đề còn gây băn khoăn trong quá trình triển khai thực tế.
Theo ông Lê, điểm khiến các trường, phụ huynh và thí sinh “ngỡ ngàng” thời gian qua là câu chuyện về các môn chung trong tổ hợp xét tuyển. Theo định hướng của Bộ GD&ĐT đưa ra trước đó, từ năm 2026, các môn chung giữa các tổ hợp xét tuyển của cùng một ngành phải chiếm tối thiểu 50% trọng số tính điểm xét tuyển, khiến nhiều trường đã công bố phương án tuyển sinh theo hướng xây dựng tổ hợp môn mới, một số tổ hợp truyền thống phải bỏ. Tuy nhiên, trong dự thảo mới, Bộ GD&ĐT không còn quy định cụ thể về “môn chung” mà chỉ nêu yêu cầu về các môn chính trong tổ hợp như trước đây. Điều này buộc các trường đã công bố phương án phải điều chỉnh lại, đồng thời tạo tâm lý lo lắng, xáo trộn cho thí sinh vì đã sớm định hướng học tập theo thông tin cũ.
Một nội dung khác được ông Lê phân tích khá kỹ là quy định về điểm cộng trong xét tuyển. Dự thảo cho phép tổng điểm cộng tối đa không quá 10% thang điểm 30, tương đương 3 điểm, nhưng đồng thời giới hạn mỗi thành phần điểm cộng không vượt quá 1,5 điểm. Theo ông, ông đồng tình với chủ trương siết chặt điểm cộng để tránh lạm dụng, song việc giảm trần điểm cộng thành phần từ 3 điểm xuống 1,5 điểm là hơi mạnh và thiếu tính thuyết phục.
Ông Lê cho rằng bản chất của bất cập trước đây không nằm ở lỗi của các trường mà ở việc chưa có khung quản lý thống nhất. Có thời điểm, một số trường vừa quy đổi chứng chỉ ngoại ngữ sang điểm xét tuyển, vừa tiếp tục cộng điểm khuyến khích cho cùng một loại chứng chỉ, dẫn đến việc thí sinh được hưởng lợi hai lần. Nếu Bộ quy định rõ mỗi chứng chỉ chỉ được sử dụng một lần, để quy đổi hoặc để cộng điểm, thì tình trạng này sẽ không xảy ra và vẫn bảo đảm công bằng.
Từ góc độ chính sách, ông Lê nhấn mạnh rằng công bằng trong tuyển sinh chỉ mang tính tương đối. Thí sinh ở vùng khó khăn đã được hưởng điểm ưu tiên khu vực, trong khi thí sinh ở đô thị không có ưu tiên này thì việc sử dụng chứng chỉ ngoại ngữ làm lợi thế xét tuyển là phù hợp, nhất là trong bối cảnh cả hệ thống giáo dục đang thúc đẩy năng lực ngoại ngữ. Việc “cào bằng” bằng cách kéo chuẩn xuống không giúp nâng cao chất lượng đầu vào và cũng tác động vào quyền tự chủ tuyển sinh của các trường.
Về kiến nghị, ông Lê đề xuất Bộ GD&ĐT nên giữ nguyên nguyên tắc khống chế tổng điểm cộng không quá 10% thang điểm, nhưng cần xem xét lại mức giảm trần điểm cộng thành phần, đồng thời cần ban hành khung quy đổi thống nhất để các trường căn cứ thực hiện. Đặc biệt, ông cũng mong muốn mọi điều chỉnh lớn trong tuyển sinh ĐH cần có lộ trình rõ ràng, bởi thí sinh đã lựa chọn tổ hợp môn từ khi vào lớp 10. Việc thay đổi đột ngột sẽ khiến cả thí sinh lẫn các cơ sở đào tạo rơi vào thế bị động và tạo xáo trộn không cần thiết trong xã hội.
Muốn vào sư phạm, thí sinh phải đặt nguyện vọng từ 1 đến 3
Theo dự thảo Quy chế tuyển sinh ĐH năm 2026, Bộ GD&ĐT cũng chỉ cho phép thí sinh được đăng kí tối đa 10 nguyện vọng vào các chương trình đào tạo của các cơ sở đào tạo khác nhau, nhưng phải sắp xếp các nguyện vọng theo thứ tự ưu tiên từ cao xuống thấp. Riêng đối với các chương trình đào tạo giáo viên, chỉ xét tuyển thí sinh đăng kí ở các nguyện vọng có thứ tự từ 1 đến 3.
Cạnh đó, đối với tuyển sinh các hình thức đào tạo không chính quy hoặc các phương thức xét tuyển kết hợp không sử dụng hoàn toàn kết quả thi tốt nghiệp THPT, dự thảo quy định thí sinh vào các chương trình đào tạo giáo viên, lĩnh vực sức khỏe có cấp giấy phép hành nghề và lĩnh vực pháp luật phải đáp ứng ngưỡng đầu vào nhất định. Cụ thể, thí sinh có học lực THPT từ giỏi trở lên phải đạt tổng điểm ba môn thi tốt nghiệp THPT theo tổ hợp xét tuyển từ 20 điểm trở lên hoặc điểm xét tốt nghiệp từ 8,5 trở lên; trường hợp học lực từ khá trở lên phải đạt tối thiểu 16,5 điểm ba môn thi tốt nghiệp THPT hoặc điểm xét tốt nghiệp từ 6,5 trở lên, áp dụng cho một số ngành sư phạm, giáo dục mầm non trình độ cao đẳng và các ngành y tế kỹ thuật theo quy định.