LTS: Nằm trong nỗ lực chung của cả thế giới trong việc phòng chống các hành vi mua bán, sử dụng trái phép các chất ma túy, hạn chế tác hại của ma túy, BLHS nước ta đã dành hẳn một chương quy định việc xử lý các tội phạm về ma túy. Đó là cơ sở pháp lý căn bản để áp dụng hình phạt đối với người phạm tội về ma túy. Tuy nhiên, có một giai đoạn, các điều luật chưa được hướng dẫn cụ thể, rõ ràng dẫn đến việc áp dụng chưa thống nhất, có thể gây tranh cãi ở từng bản án cụ thể. Trong đó có một số trường hợp mua bán thuốc có chứa một hàm lượng nhất định chất ma túy (chất gây nghiện, chất hướng thần) bị xử về tội mua bán trái phép chất ma túy.
Mới đây, TAND Tối cao, VKSND Tối cao đã xem xét lại và thống nhất miễn chấp hành hình phạt cho một phạm nhân bị kết án tù chung thân do hành vi này. Từ vụ án này, nhiều vấn đề pháp lý được đặt ra.
Ngày 28-11-2001, Công an huyện Củ Chi phát hiện Nguyễn Tiến Tùng, ngụ Tây Ninh, mang 8.000 viên thuốc Valium, 3.300 viên thuốc Tranxene từ Tây Ninh về TP.HCM.
Theo kết quả giám định khoa học hình sự của Công an TP.HCM, 8.000 viên nén hiệu Valium trọng lượng 1,392 kg có chứa thành phần Diazepam, 3.000 viên nhộng hiệu Tranxene loại 5 mg trọng lượng 346,2 g có chứa thành phần Clorazepate, 300 viên nhộng hiệu Tranxene loại 10 mg có chứa thành phần Clorazepate. Tổng cộng là 1,776 kg. Theo kết quả giám định thì do không có mẫu chuẩn (chất gốc) nên không xác định được hàm lượng Diazepam, Clorazepate trong các viên tân dược Valium, Tranxene.
Các cơ quan tiến hành tố tụng dựa theo công ước quốc tế xác định Diazepam và Clorazepate là chất ma túy độc dược, chỉ dùng trong nghiên cứu khoa học và trong y tế nên đã khởi tố, bắt tạm giam Tùng về hành vi mua bán trái phép chất ma túy.
Lãnh án chung thân
Tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo Tùng khai mua số tân dược trên với mục đích bán kiếm lời nuôi vợ con chứ không hề biết đó là ma túy. Luật sư bào chữa cho bị cáo Tùng nhận định: Kết quả giám định về số thuốc tân dược trên chưa bóc tách hàm lượng cụ thể của chất Diazepam, Clorazepate mà lại quy buộc toàn bộ số tân dược trên thành chất ma túy để truy tố bị cáo theo khoản 4 Điều 194 BLHS có khung hình phạt cao nhất đến mức án tù chung thân, tử hình là chưa có cơ sở.

PV trao đổi với ông Nguyễn Sắc Tố(giữa) - cha của bị án Nguyễn Tiến Tùng và đại biểu Quốc hội Nguyễn Đình Xuân (phải).Ảnh: TRUNG DUNG
Tuy nhiên, những ý kiến và lập luận trên không được chấp thuận. Hội đồng xét xử (HĐXX) viện dẫn danh mục theo công ước quốc tế nêu rõ chất Diazepam, Clorazepate là chất ma túy độc dược, chỉ dùng trong nghiên cứu khoa học và trong y tế để xác định bị cáo Tùng phạm tội mua bán trái phép chất ma túy. Từ đó, HĐXX cũng đánh đồng 1,776 kg thuốc tân dược thành 1,776 kg ma túy ở thể rắn để định lượng, định khung xét xử. Xét bị cáo Tùng thành khẩn, cha bị cáo là người có công với cách mạng nên TAND TP.HCM tuyên phạt bị cáo Tùng mức án tù chung thân. Thấy bản án quá nặng, không đúng với tính chất hành vi phạm tội, ông Tùng kháng cáo lên Tòa Phúc thẩm TAND Tối cao tại TP.HCM. Tại phiên tòa phúc thẩm, HĐXX bác kháng cáo, tuyên y án sơ thẩm. Cũng như tại phiên sơ thẩm, tòa phúc thẩm cho rằng chất Diazepam, Clorazepate là chất ma túy độc dược dựa theo danh mục trong công ước quốc tế để xác định bị cáo Tùng phạm tội mua bán trái phép chất ma túy.
Chín năm kêu oan cho con
Tin rằng con mình không phạm tội mua bán trái phép chất ma túy như tòa tuyên, ông Nguyễn Sắc Tố - cha của Tùng đã bắt đầu cuộc hành trình minh oan cho con. Ông bộc bạch: “Do hoàn cảnh gia đình khó khăn, Tùng chạy xe ôm nuôi vợ con. Thấy người khác mua bán thuốc tân dược có lãi, nó cũng bắt chước để kiếm đồng lời lo cho gia đình. Chuyến đầu tiên đến TP.HCM để bán thuốc cũng là chuyến đi định mệnh của nó.
Ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật, tôi gửi đơn đến Văn phòng Quốc hội, TAND Tối cao, VKSND Tối cao… kêu cứu và đề nghị xem xét giám đốc thẩm lại toàn bộ vụ án. Tháng 2-2004, TAND Tối cao có công văn trả lời tôi là không có căn cứ để kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm. Trong hai năm 2004-2005, TAND Tối cao có thêm ba văn bản trả lời là không có căn cứ kháng nghị giám đốc thẩm! Buồn, thất vọng nhưng tôi vẫn tin rồi công lý sẽ đến. Năm 2004, qua báo chí, tôi biết vụ án mua bán thuốc tân dược có chất hướng thần với số lượng lớn hơn nhiều nhưng cơ quan tiến hành tố tụng đã bóc tách hàm lượng để xử lý với khung hình phạt nhẹ hơn nhiều so với Tùng. Tôi tiếp tục ra Hà Nội gửi đơn. các cơ quan chức năng chuyển đơn đến TAND Tối cao”.

Công văn chánh án TAND Tối cao trả lời chất vấn cho đại biểu Quốc hội Nguyễn Đình Xuân.
Hy vọng lóe lên khi Thông tư liên tịch 17/2007 ra đời, hướng dẫn áp dụng một số quy định trong Chương các tội phạm về ma túy của BLHS. Đọc thông tư này, ông Tố thấy hai vấn đề then chốt liên quan đến vụ án của con ông. Một là có sự phân biệt rõ ràng giữa chất ma túy và thuốc có chứa chất ma túy. Chất ma túy là chất gây nghiện, chất hướng thần theo danh mục quy định, còn thuốc gây nghiện, thuốc hướng thần có chứa một hàm lượng nhất định chất ma túy chủ yếu dùng để chữa bệnh và được quản lý theo quy chế quản lý dược phẩm của Bộ Y tế. Người nào mua bán thuốc gây nghiện, thuốc hướng thần nhằm mục đích kinh doanh, hoặc để chữa bệnh thì bị xử lý hành chính hoặc xử lý hình sự về một tội phạm tương ứng khác không phải là tội phạm về ma túy (ví dụ: tội kinh doanh trái phép, tội buôn lậu…). Chỉ trong trường hợp sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, mua bán thuốc gây nghiện, thuốc hướng thần trái phép nhằm thỏa mãn nhu cầu về sử dụng trái phép chất ma túy cho mình hoặc cho người khác thì mới bị xử lý về tội phạm ma túy tương ứng (nếu thỏa mãn điều kiện về trọng lượng chất ma túy theo quy định của pháp luật). Thứ hai, khi thu giữ các chất nghi là ma túy thì cần phải xác định loại, hàm lượng, trọng lượng chất ma túy chứ không phải tính cả tá dược, bao bì để quy buộc toàn bộ là chất ma túy rồi kết án như vụ của Tùng.
Như người chết đuối vớ được phao, ông gửi đơn đến TAND Tối cao và các cơ quan có thẩm quyền với niềm hy vọng là con mình sẽ được trả tự do. “Nhưng đơn gửi đi lại được chuyển về Tây Ninh để giải quyết, còn ngày con tôi được tự do vẫn mịt mù khơi xa” - ông Tố kể. Đầu năm 2008, lá đơn thứ 303 của ông được đại biểu Quốc hội Nguyễn Đình Xuân tiếp nhận. Ông Xuân đã chuyển đơn và nhiều lần chất vấn chánh án TAND Tối cao, đeo đuổi đến cùng sự việc. “Nếu không gặp ông Xuân thì giờ này chắc con tôi chưa được tự do. Ông ấy là ân nhân của cả gia đình tôi...” - ông Tố bày tỏ.
Chất vấn quyết liệt
Đại biểu Quốc hội Nguyễn Đình Xuân kể: “Tôi đã đọc đơn, hồ sơ vụ án, lắng nghe ông Nguyễn Sắc Tố trình bày và nghiên cứu sâu về vụ này. Tôi nhờ những người bạn chuyên về pháp luật thẩm định lại và họ đồng quan điểm với tôi là vụ án này có vấn đề. Khi có niềm tin chắc chắn, tôi mới chuyển đơn cho TAND Tối cao xem xét”.
Đợi một thời gian không thấy trả lời, ngày 26-5-2009, ông Nguyễn Đình Xuân ghi phiếu chất vấn chánh án TAND tối cao. Ông Xuân kể: “Trong nội dung chất vấn, tôi nêu rõ là bản án này có sai sót khi không giám định hàm lượng chất ma túy có trong thuốc tân dược mà quy kết tất cả khối lượng thuốc tân dược này là ma túy để kết tội bị cáo Tùng. Tôi đề nghị chánh án cho biết tại sao lại xảy ra sự việc trên. Khi nào bản án sẽ được xem xét lại? Ngày 26-11-2009, TAND Tối cao gửi công văn trả lời nhưng tôi chưa đồng tình và gửi công văn chất vấn trở lại”.
Ngày 13-8-2010, chánh án TAND Tối cao có công văn trả lời là sau khi trao đổi và thống nhất với viện trưởng VKSND Tối cao, TAND Tối cao đã có văn bản hướng dẫn thủ tục và yêu cầu chánh án TAND tỉnh Đồng Nai (nơi phạm nhân Tùng đang thụ án) phối hợp với Ban giám thị trại giam Xuân Lộc, VKSND tỉnh Đồng Nai tiến hành ngay các thủ tục miễn chấp hình phạt cho phạm nhân Tùng theo hướng dẫn Thông tư liên tịch 17/2007 và các văn bản pháp luật liên quan.
TRUNG DUNG