Xâm nhập “vùng biển chết”

Bài 1: Luồng nước tử thần

 Từ năm 1987 đến nay, có đến 15 tàu trọng tải lớn với hàng chục thủy thủ đã bỏ mạng khi lọt vào luồng nước tử thần ở đây. Việc tìm kiếm con tàu Bth-96984Ts đã chính thức dừng lại bởi không còn hy vọng. Gia đình năm thuyền viên xấu số chỉ biết ngậm ngùi lập bàn thờ cúng vọng người thân của mình.

Tai nạn xảy ra với tàu Bth-96984 13 thuyền viên được cứu sống nhưng khiến một người chết, năm người mất tích. Vụ việc làm cho giới thuyền trưởng, hoa tiêu thông thạo luồng lạch trên vùng biển Bình Thuận không khỏi giật mình.

Tàu thuyền tấp nập ở khu vực hải đăng Kê Gà 

Thuyền viên Nguyễn Thành Lăng (35 tuổi, có gần 15 năm kinh nghiệm đi biển) một thuyền viên sống sót sau gần 20 giờ lênh đênh trên biển nói: “Con tàu lật quá nhanh, không ai kịp làm gì dù trên tàu trang bị đầy đủ áo phao.Tàu bị lật úp là rất kỳ lạ. Biển lúc đó gió giật trên cấp 7, mưa mù mịt nhưng đối với con tàu 380 sức ngựa thì chẳng là gì. Để tránh những con sóng lớn cao gần 2 m vỗ vào mũi tàu, tài công đã bẻ lái và lập tức lãnh ngay một đợt sóng khiến con tàu lật úp trong vài giây.”

Dù nguyên nhân con tàu bị lật vẫn chưa được làm rõ nhưng hầu hết những người đi biển lành nghề đều nhận định con tàu trên đã lọt vào “vùng biển chết”.

Sóng “đá gà”

Lật lại vụ con tàu Đức Trí vận chuyển 1.700 tấn dầu FO từ TP.HCM đi Đà Nẵng bị lật ngày 2-3-2008 ở gần tọa độ con tàu Bth- 96984 bị nạn, khiến 14 thủy thủ thiệt mạng mới thấy vùng biển này nguy hiểm như thế nào.

Ông Tư Nhan, một thuyền trưởng hơn 30 năm kinh nghiệm cho biết chưa ở đâu có luồng nước hung dữ, nguy hiểm và lạ lùng như ở đây. Theo ông Nhan, mặt biển tại luồng nước này luôn phẳng lì, rất hiền hòa. Thế nhưng sâu chừng hai mét trở xuống, có đến ba dòng chảy ngầm, cuộn vào nhau tạo thành dòng xoáy rất khủng khiếp mà dân đi biển gọi là “sóng đá gà”.

Phao “H” cảnh báo tại “vùng biển chết”

Các thuyền trưởng, hoa tiêu đi lại đây thường mất cảnh giác, à đến khi lọt vào luồng nước dữ thì trở tay không kịp. Luồng nước tử thần kéo rộng đến hơn một hải lý vuông, mặt biển êm ả chẳng khác gì xung quanh. Thế nhưng hơn ba giờ đồng hồ chúng tôi neo tàu gần đó khảo sát, không có một ghe thuyền nào dám qua lại. Máy định vị trên tàu xác định tâm điểm của “vùng biển chết” nằm ở vĩ độ: 10o38’23"5 N, kinh độ: 107o57’23"5 E.

Theo ông Tư Nhan, đường biển không khác đường bộ vì cũng có đèo dốc khi đi qua các cồn biển, có chướng ngại vật khi đi qua các rặng đá ngầm, có cả các điểm đen khi lọt vào vùng nước xoáy.

Khi nhận lời đưa chúng tôi ra xâm nhập “vùng biển chết”, ngoài việc dặn dò chúng tôi nai nịt áo phao, ông Tư còn kéo theo chiếc ghe 38 mã lực của mình một chiếc thúng chai. Ông chỉ chiếc thúng bé tẹo cười khà khà động viên: “Đây là phương tiện cứu hộ ngon lành nhất ở luồng nước tử thần này, vì sâu xuống hơn hai mét mới có dòng chảy ngầm, còn chiếc thúng nhỏ này có thể lắc ào ào trên mặt biển nhưng chẳng hề hấn gì khi lướt qua nó”.

Hiện trường với phao đen tại tâm điểm tàu chìm

Anh Lê Văn Tám, một thợ lặn nổi tiếng trong nghề trục vớt ở Bà Rịa-Vũng Tàu, cho biết ở các vùng biển bình thường, thợ lặn chỉ cần ngậm ống hơi nhảy xuống theo phương thẳng đứng là có thể tiếp cận vị trí đã định. Còn ở đây, thợ lặn đeo nịt chì nặng 15 kg để xuống nước nhanh hơn nhưng chỉ xuống vài mét là bị dòng chảy kéo đi xa vài chục mét ngay. “Trục vớt xác tàu đắm ở “vùng biển chết” này là công việc vô cùng khó khăn và là thách thức của nghề thợ lặn”, anh Tám nói.

Lời cảnh báo từ thế kỷ XIX

Trong lịch sử hàng hải, trong vùng biển từ Khánh Hòa đến Vũng Tàu, mũi Kê Gà được đánh giá là vị trí hiểm yếu. Nhiều thế kỷ trước, nhiều tàu buôn nước ngoài và cả tàu của quân đội thực dân Pháp qua lại nơi đây đều bị mất tích.

Từ cuối thế kỷ XIX, người Pháp đã bắt tay xây dựng ngọn hải đăng tại đây để hướng dẫn tàu bè qua lại, cảnh báo vùng nguy hiểm.

Tháng 2-1897, hải đăng Kê Gà khởi công do kỹ sư Chnavat thiết kế và chỉ huy công trình. Đến năm 1899, ngọn đèn biển này chính thức hoạt động. Tháp đèn được xây bằng đá granit, toàn bộ vật liệu được vận chuyển từ cảng Marseille ở Pháp sang.

Hải đăng Kê Gà có hình bát giác, mỗi cạnh 3m, cao 41 m. Bên trong lòng tháp là một cầu thang xoắn ốc bằng thép gồm 184 bậc. Với độ cao 65 m so với mặt biển, hải đăng Kê Gà được xem là hải đăng cao nhất Việt Nam.

Có đến 86 người tù khổ sai bỏ mạng khi tham gia xây dựng ngọn hải đăng này. Ngọn đèn phát ra ánh sáng trắng, chớp theo quy ước ba ngắn một dài với chu kỳ một vòng quay là 20 giây. Đó là tín hiệu quy ước để phân biệt Kê Gà với các hải đăng khác. Nhờ cấu tạo đặc biệt, ánh sáng phát ra khi trời trong lên đến 22 hải lý (40 km). Từ 2004 đến nay, chiếc đèn cổ này được thay bằng dàn đèn của Mỹ và được thắp sáng bằng dòng điện từ pin năng lượng mặt trời, chiều rộng của dòng ánh sáng hẹp hơn nhưng vẫn có thể chiếu tối đa đến 22 hải lý.

Từ cuối thế kỷ XIX đến nay, ngọn đèn trên chưa bao giờ tắt. Thế nhưng, do độ nguy hiểm của luồng nước, số tàu đắm có trọng tải lớn vì chủ quan ngày một nhiều hơn.

Anh Nguyễn Văn Sáu - Trưởng trạm hải đăng Kê Gà (thuộc Công ty Bảo đảm an toàn hàng hải II) cho biết ngoài việc giữ cho ngọn đèn biển không tắt dù chỉ một giây, họ còn có nhiệm vụ đặt và kiểm tra phao báo hiệu chướng ngại vật thường xuyên. Hiện trạm Kê Gà đang quản lý phao “H” . Cứ ba ngày một lần, họ phải có mặt ở “vùng biển chết” để thay bình ắc-quy cung cấp năng lượng phát sáng cho phao để cảnh báo tàu bè.

Cuối tháng 6-2006, tàu Hoàng Sơn 16 với thủy thủ đoàn 14 người vận chuyển 1.000 tấn than đá từ Quảng Ninh trên hải trình vào cảng Sài Gòn. Không may, họ đã lọt vào “vùng biển chết”. Con tàu trọng tải 1.200 tấn bỗng như trở thành một viên sỏi bé nhỏ, lọt vào giữa luồng nước tử thần và bị nhấn chìm ngay tức khắc.

(còn tiếp)

PHƯƠNG NAM

Đừng bỏ lỡ

Video đang xem nhiều

Đọc thêm