TAND TP Cần Thơ vừa ban hành bản án phúc thẩm về tranh chấp yêu cầu tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất vô hiệu và yêu cầu bồi thường thiệt hại giữa nguyên đơn là ông NVK, bị đơn là ông NHN.
Kiện vì bỗng nhiên mất quyền sử dụng đất
Theo đó, ông K trình bày, ông là chủ sử dụng thửa đất đã được cấp giấy chứng nhận năm 2017. Giấy đất này đã bị mất và ông có trình báo đến công an phường.
Nay ông phát hiện ông N đã giả chữ ký của ông để làm hợp đồng chuyển nhượng năm 2022 và ông N đã được chỉnh lý sang tên. Ông K nói mình không biết ông N, cũng không vay 450 triệu của ông N.
Vì vậy, ông K yêu cầu tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng vô hiệu; buộc ông N giao lại bản chính giấy đất. Trường hợp ông N không giao bản chính giấy đất thì kiến nghị cơ quan có thẩm quyền thu hồi, hủy bỏ việc chỉnh lý sang tên trong giấy, để cấp lại cho ông.
Trong khi đó, ông N trình bày, trước đây do có người quen giới thiệu việc cầm cố, chuyển nhượng đất nên ông được giới thiệu gặp ông K có nhu cầu vay tiền. Hai bên thỏa thuận số tiền vay 450 triệu đồng, lãi suất 3%/tháng, ông K ký hợp đồng chuyển nhượng thửa đất trên cho ông để làm tin.
Sau khi thống nhất, ông cùng người giới thiệu (không rõ tên và địa chỉ) đến văn phòng công chứng (VPCC). Đến nơi chỉ có một mình ông, ông K chưa tới. Nhân viên VPCC yêu cầu ông xuất trình giấy tờ và ký vào hợp đồng chuyển nhượng, rồi chiều quay lại nhận hợp đồng, giao tiền.
Ông N ký vào hợp đồng rồi về. Ông N không gặp ông K, cũng không biết ông K là ai. Đầu giờ chiều cùng ngày, ông N đưa 450 triệu cho cháu mang đến VPCC để giao. Ông không biết cháu mình giao tiền cho ai vì bận ở nhà lo đám giỗ. Sau đó, cháu ông mang hợp đồng chuyển nhượng về cho ông và ông đã chỉnh lý sang tên thửa đất cho mình.
Từ khi cho vay đến nay, ông K không trả lãi tháng nào. Ông đã trình báo công an, được hướng dẫn gặp ông K nhưng ông K khẳng định không vay tiền của ông. Năm 2024, ông ký hợp đồng chuyển nhượng thửa đất trên cho người khác làm thủ tục vay ngân hàng nhưng vẫn chưa vay được.
Do đó, ông yêu cầu toà giải quyết theo pháp luật, đồng thời yêu cầu VPCC bồi thường cho ông 450 triệu đồng. Nếu được bồi thường, ông đồng ý trả lại giấy đất cho ông K.
Nguyên đơn, bị đơn nói không gặp nhau, VPCC nói cả hai có mặt ký tên
Như vậy, theo lời khai của cả nguyên đơn và bị đơn, hai bên không gặp nhau khi hợp đồng công chứng được ký kết. Đồng thời, quá trình giải quyết vụ việc, ông K (nguyên đơn) đã làm đơn đề nghị giám định chữ ký, chữ viết trên hợp đồng chuyển nhượng đất nêu trên. Kết quả chữ ký, chữ viết không phải của ông K. Hiện ông vẫn đang quản lý, sử dụng và sinh sống tại căn nhà có trên thửa đất.
Trong khi đó, VPCC lại xác định có công chứng hợp đồng chuyển nhượng giữa ông K và ông N, hai ông đều có mặt, cung cấp đầy đủ hồ sơ hợp lệ để thực hiện thủ tục nên không đồng ý với yêu cầu của nguyên đơn.
Người nhận chuyển nhượng từ ông N cũng thừa nhận có việc chuyển nhượng làm tin để thực hiện vay ngân hàng như ông N trình bày...
Cháu ông N khai rằng đã giao 450 triệu tiền mặt cho ba người (không biết là ai) theo hướng dẫn của nhân viên VPCC. Sau khi giao tiền ông được nhận bản chính giấy đất, bộ hồ sơ chuyển nhượng, rồi giao lại toàn bộ cho ông N.
Quan điểm của hai cấp tòa
Xử sơ thẩm, TAND khu vực 2 – Cần Thơ chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông K, tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng đất giữa ông K và ông N vô hiệu. Đồng thời tòa cũng tuyên vô hiệu hợp đồng chuyển nhượng giữa ông N và người tiếp theo; kiến nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để cấp lại cho ông K.
Tòa cũng chấp nhận yêu cầu của ông N về việc buộc VPCC bồi thường cho ông này 450 triệu đồng.
Theo cấp sơ thẩm, VPCC đã vi phạm nghĩa vụ khi không kiểm tra, xác minh chặt chẽ nhân thân và ý chí của các bên theo Điều 7, Điều 17 Luật Công chứng 2014, dẫn đến việc hợp đồng được chứng nhận dựa trên chữ ký, dấu vân tay giả mạo.
VPCC là chủ thể có lỗi trực tiếp gây ra thiệt hại cho ông N, do đó phải chịu trách nhiệm bồi thường theo Điều 38 Luật Công chứng 2014. Vì vậy, hậu quả của hợp đồng vô hiệu được giải quyết như sau: VPCC có trách nhiệm bồi thường cho ông N số tiền 450 triệu đồng. Ông K không có lỗi, không phải bồi thường.
Sau đó, VKSND khu vực 2 Cần Thơ kháng nghị sửa án sơ thẩm theo hướng không chấp nhận yêu cầu của ông N buộc VPCC bồi thường 450 triệu. VPCC cũng kháng cáo, không chấp nhận bồi thường cho ông N.
Xử phúc thẩm, TAND TP Cần Thơ xác định, theo kết luận giám định của Phân viện Khoa học hình sự tại TP.HCM, chữ ký, chữ viết, dấu vân tay trên hợp đồng chuyển nhượng không phải của ông K. VPCC đã thực hiện công chứng hợp đồng chuyển nhượng chưa đảm bảo tính hiệu lực của hợp đồng, vi phạm Luật Công chứng năm 2014. Do đó, tòa sơ thẩm xác định giao dịch dân sự giữa nguyên đơn và bị đơn là giả tạo, vô hiệu theo Điều 124 BLDS năm 2015 là có căn cứ.
Tòa phúc thẩm xác định cháu ông N là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan số tiền 450 triệu, không phải người làm chứng như cấp sơ thẩm xác định. Không có chứng cứ nào chứng minh người cháu này đã giao 450 triệu cho ông K hay ai khác. Trong khi người này thừa nhận có nhận 450 triệu của ông N. Vì vậy người này phải có trách nhiệm với ông N về số tiền này.
Cả ông N và người cháu không có chứng cứ chứng minh đã giao 450 triệu cho VPCC. Do đó, tòa sơ thẩm buộc VPCC có nghĩa vụ bồi thường 450 triệu cho ông N là không có cơ sở.
Từ đó, tòa phúc thẩm chấp nhận kháng nghị, chấp nhận kháng cáo của VPCC, sửa một phần bản án sơ thẩm, tuyên xử chấp nhận yêu cầu của ông K, tuyên vô hiệu hai hợp đồng chuyển nhượng; kiến nghị cơ quan có thẩm quyền cấp lại giấy đất cho ông K; đồng thời không chấp nhận yêu cầu của ông N về việc buộc VPCC bồi thường 450 triệu đồng.