Sáu tuần sau khi cuộc chiến với Iran bắt đầu, Tổng thống Donald Trump giao cho Hải quân Mỹ nhiệm vụ khó khăn nhất trong cuộc xung đột: phong tỏa các cảng của Iran và rà phá thủy lôi Iran thả tại eo biển Hormuz chiến lược.
Lệnh phong tỏa sẽ áp dụng cho tất cả các cảng của Iran, cả bên trong và bên ngoài eo biển – một tuyến đường quan trọng đối với hoạt động thương mại năng lượng toàn cầu mà Iran đã nắm giữ kể từ khi chiến tranh nổ ra – bắt đầu từ 10 giờ sáng giờ miền Đông ngày 13-4, theo thông báo của Bộ Tư lệnh Trung tâm Mỹ (CENTCOM).
Ông Trump ám chỉ rằng nhiệm vụ đó thậm chí sẽ có phạm vi rộng hơn nữa, có thể vượt ra ngoài vùng Vịnh Ba Tư.
“Tôi cũng đã chỉ thị Hải quân của chúng ta tìm kiếm và chặn bắt mọi tàu thuyền trong vùng biển quốc tế đã trả phí cho Iran. Không ai trả phí bất hợp pháp sẽ được an toàn đi lại trên biển cả” – đài CNN dẫn thông báo từ ông Trump hôm 12-4, đề cập động thái của Tehran trong việc thu phí tàu thuyền để được an toàn đi lại.
Mục tiêu của chiến dịch là tối đa hóa áp lực lên Iran bằng cách cắt đứt nguồn thu từ thương mại năng lượng. Nhưng để giải quyết cuộc khủng hoảng năng lượng toàn cầu trong cuộc chiến này, cần một nhiệm vụ khó khăn khác: rà phá mọi thủy lôi mà Iran đã gài ở eo biển Hormuz.
Hôm 11-4, ông Trump nói rằng Hải quân Mỹ đã bắt đầu các hoạt động rà phá thủy lôi ở eo biển. CENTCOM đã xác nhận điều này, cho biết hai tàu khu trục mang tên lửa dẫn đường của Mỹ đã tiến vào eo biển để bắt đầu "chuẩn bị điều kiện cho việc rà phá thủy lôi".
Các nhiệm vụ này đánh dấu một sự chuyển dịch trong cuộc xung đột, từ trên không xuống biển. Cho đến nay, cuộc xung đột chủ yếu diễn ra trên không, trừ sự việc một tàu ngầm của Mỹ đã đánh chìm một tàu khu trục của Hải quân Iran ngoài khơi Sri Lanka trong những ngày đầu của cuộc chiến.
Theo CNN, những nhiệm vụ mà lực lượng Mỹ thực hiện được trong cuộc chiến với Iran tính tới nay không phức tạp hay rủi ro bằng những gì ông Trump đang yêu cầu Hải quân thực hiện hiện nay.
Hải quân Mỹ có thể thực hiện nhiệm vụ hiệu quả?
Việc đóng cửa các cảng của Iran, hầu hết đều nằm trong eo biển Hormuz, đối với tàu chở dầu và các tàu thương mại khác sẽ "khó khăn về mặt thủ tục, nhưng khả thi nếu Mỹ có ưu thế trên biển", theo nhận định của nhà phân tích Carl Schuster, một cựu thuyền trưởng hải quân Mỹ.
Nhưng điều đó cũng có thể không đúng. Các nhà phân tích cho rằng Iran vẫn có khả năng đáp trả bằng thủy lôi, một số lượng không xác định các tàu nhỏ có thể mang tên lửa, máy bay không người lái trên mặt nước, máy bay không người lái trên không và tên lửa hành trình phóng từ mặt đất cũng như tên lửa phòng không vác vai có thể nhắm mục tiêu vào trực thăng và máy bay chiến đấu bảo vệ các tàu trên biển.
Nhà nghiên cứu Yu Jihoon tại Viện Phân tích Quốc phòng Hàn Quốc và là cựu sĩ quan tàu ngầm Hàn Quốc, cho rằng lệnh phong tỏa có "rủi ro cao" vì những lựa chọn phản công của Iran.
“Nếu Iran coi đó là hành vi vi phạm chủ quyền hoặc là sự mở rộng trên thực tế của chiến tranh trên biển, thì khả năng xảy ra xung đột quân sự cục bộ có thể gia tăng” – theo ông Yu.
Nói với CNN, Đô đốc hải quân Mỹ James Stavridis đã nghỉ hưu cho rằng Lầu Năm Góc sẽ cần 2 nhóm tác chiến tàu sân bay và khoảng một chục tàu nổi bên ngoài Vịnh Ba Tư để tuần tra eo biển Hormuz ở cửa vào.
Bên trong vùng Vịnh, Đô đốc Stavridis cho rằng sẽ cần ít nhất 6 tàu khu trục của Mỹ, cùng với sự hỗ trợ từ hải quân của các đối tác Mỹ như Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất và Saudi Arabia.
Nhà phân tích Schuster cho biết Hải quân Mỹ huấn luyện các đội đổ bộ gồm khoảng 10 đến 14 người để kiểm soát các tàu buôn. Mỗi đội bao gồm một "sĩ quan trực ban" đóng vai trò như thuyền trưởng của tàu buôn sau khi chiếm quyền kiểm soát và "dẫn tàu đến nơi neo đậu hoặc cảng để giam giữ".
Nhưng tất cả những điều đó đều cần thời gian. Ông Schuster cho biết trong số 6 tàu khu trục của Mỹ bên trong eo biển, 2 chiếc sẽ được sử dụng để kiểm tra tàu địch, 4 chiếc còn lại sẽ ở gần đó để đối phó bất kỳ nỗ lực nào của Iran nhằm ngăn chặn các hành động đó. 2 tàu khu trục này có thể bắt giữ tổng cộng 6 tàu mỗi ngày, theo ông Schuster.
Trước khi Mỹ và Israel phát động chiến tranh chống Iran, mỗi ngày có khoảng 130 tàu thuyền đi qua eo biển Hormuz, nơi vận chuyển khoảng một phần năm lượng dầu khí của thế giới.
Theo ông Alessio Patalano, Giáo sư chiến tranh và chiến lược tại Đại học King's College London, trong lịch sử, các cuộc phong tỏa thường được thực hiện gần bờ biển của một quốc gia. Nhưng nhờ hoạt động tình báo, tìm kiếm và trinh sát hiện đại, nhiệm vụ này có thể thực hiện ở tầm xa hơn. Ông cho rằng Mỹ cũng có thể bắt đầu bằng các hoạt động ở xa Iran hơn, rồi tiến gần hơn khi tình hình cho phép. Điều này sẽ ngăn Iran ngay lập tức tận dụng lợi thế về tàu nhỏ và vũ khí tầm ngắn của mình.
Rà phá thủy lôi – khả năng sẽ phải dựa vào đồng minh
Ngay sau khi cuộc chiến bắt đầu, hai nguồn tin quen thuộc với tình báo Mỹ đã nói với CNN rằng Iran đã bắt đầu rải một số lượng nhỏ thủy lôi ở eo biển Hormuz.
Hai tàu khu trục của Mỹ – USS Michael Murphy và USS Frank E. Peterson – đã đi qua eo biển vào cuối tuần rồi. Tuy nhiên nhà phân tích Schuster cho rằng 2 tàu này khó có thể thực hiện bất kỳ hoạt động rà phá thủy lôi nào, và chúng cũng không phải là những phương tiện lý tưởng cho công việc đó. Ông Schuster cho rằng, nhiều khả năng các tàu khu trục đã đi qua eo biển để chứng minh rằng việc di chuyển như vậy là khả thi và không có thủy lôi nào ở đó.
Theo ông Schuster, công tác rà phá thủy lôi thực tế nhiều khả năng sẽ do máy bay không người lái dưới nước, tàu chiến ven biển được trang bị gói thiết bị chống thủy lôi và máy bay trực thăng thực hiện.
Ông Schuster nói rằng thủy lôi có nhiều hình dạng khác nhau, và một số có thể chưa được các tàu chiến của Mỹ phát hiện hoặc kích nổ.
Trong số những loại mìn mà Iran có thể triển khai ở eo biển này có: Mìn tiếp xúc có gai nhọn, giống như những loại thường thấy trong các bộ phim về Thế chiến II; Thủy lôi cảm ứng được kích hoạt bởi tĩnh điện mà tàu tạo ra khi di chuyển trong nước mặn; Thủy lôi từ tính phản ứng với sự thay đổi "dấu hiệu từ tính" của nước khi tàu thuyền đi qua; Thủy lôi âm thanh phản ứng với tiếng ồn mà tàu thuyền tạo ra khi đi qua; Thủy lôi áp suất phát nổ khi áp suất nước thay đổi đến mức mà thủy lôi đo được, tương ứng với áp suất từ loại tàu mà nó được thiết kế để phá hủy.
Ngoài ra còn có thể có một số loại mìn phức tạp chứa sự kết hợp của các loại mìn nêu trên, khiến chúng đặc biệt khó đối phó, theo ông Schuster. Một số loại thủy lôi tiên tiến có bộ đếm cho phép một số lượng tàu nhất định đi qua trước khi phát nổ.
“Những quả mìn này khiến việc xác định xem tất cả các quả mìn trong một bãi mìn đã được kích nổ hay vô hiệu hóa hay chưa trở nên rất khó khăn” – ông Schuster cảnh báo.
Theo ông Schuster, mìn được vô hiệu hóa bằng hai phương pháp chính: rà soát và truy tìm. Đối với các loại thủy lôi neo, việc rà phá sử dụng các cơ chế cắt dây cáp nối thủy lôi với đáy biển. Sau đó, thủy lôi sẽ nổi lên mặt nước để bị phá hủy. Đối với thủy lôi đáy biển, tàu quét mìn kéo theo thiết bị có thể bắt chước tín hiệu âm thanh, điện hoặc từ trường của tàu và kích nổ chúng một cách an toàn.
Tuy nhiên các kỹ thuật rà phá đơn giản này không hiệu quả đối với các loại mìn phức tạp và mìn chịu áp lực, theo ông Schuster. Song, chúng có thể được phát hiện bằng sóng siêu âm trên máy bay không người lái dưới nước hoặc tia laser gắn trên máy bay không người lái hoặc thậm chí trên máy bay trực thăng, sau đó có thể bị tiêu diệt một cách an toàn.
Các nhà phân tích cũng lưu ý rằng năng lực rà phá thủy lôi của Mỹ là có hạn. Năm ngoái, Hải quân Mỹ đã cho ngừng hoạt động 4 tàu quét mìn chuyên dụng đóng tại Bahrain, vùng Vịnh Ba Tư. Nhiệm vụ rà phá thủy lôi đã được giao cho 3 tàu chiến ven biển được trang bị gói thiết bị chống thủy lôi, nhưng vị trí của những tàu này chưa được tiết lộ. Hai trong số đó đã được nhìn thấy ở Singapore vào tháng trước.
Theo giới phân tích, Mỹ có thể phải tìm kiếm sự hỗ trợ từ bên ngoài để thực hiện việc rà phá thủy lôi triệt để ở eo biển Hormuz.
“Đây là lĩnh vực mà Hải quân Mỹ có lẽ sẽ dựa vào các đồng minh và đối tác nhiều hơn người ta tưởng” – theo Giáo sư Patalano.