Khoảng trống pháp lý nhìn từ việc dừng bảo hộ chỉ dẫn địa lý cho tôm Bình Thuận

(PLO)- Việc dừng dự án đăng ký bảo hộ chỉ dẫn địa lý cho tôm Bình Thuận không chỉ là câu chuyện thủ tục, mà cho thấy pháp luật sở hữu trí tuệ đang thiếu cơ chế kế thừa khi địa danh hành chính thay đổi.

0:00 / 0:00
0:00
  • Nam miền Bắc
  • Nữ miền Bắc
  • Nữ miền Nam
  • Nam miền Nam

Vụ việc tạm dừng dự án đăng ký bảo hộ chỉ dẫn địa lý cho tôm Bình Thuận phản ánh một thực tế đáng suy ngẫm: Một sản phẩm có giá trị kinh tế và danh tiếng lại không thể được bảo hộ, chỉ vì địa danh hành chính gắn với nó không còn tồn tại.

Vấn đề pháp lý nằm ở sự thay đổi trong việc xác định vùng địa lý hành chính mới, vốn là điều kiện tiên quyết để được công nhận chỉ dẫn địa lý theo Luật Sở hữu trí tuệ (SHTT).

Việc tạm dừng đăng ký bảo hộ chỉ dẫn địa lý cho tôm Bình Thuận không chỉ là một vấn đề pháp lý đơn lẻ, mà còn là biểu hiện điển hình của xung đột giữa pháp luật. Khi địa danh hành chính bị thay đổi hoặc xóa bỏ, hệ thống pháp luật hiện hành chưa có cơ chế kế thừa tương ứng để duy trì hiệu lực pháp lý của chỉ dẫn địa lý.

Tôm Bình Thuận.jpeg
Con tôm của tỉnh Bình Thuận cũ từ lâu đã nổi tiếng trên thị trường trong nước và quốc tế.

Đúng luật nhưng chưa bảo vệ được giá trị thực

Theo khoản 22 Điều 4 Luật SHTT 2005 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2022), chỉ dẫn địa lý là dấu hiệu dùng để chỉ nguồn gốc địa lý của sản phẩm từ khu vực, địa phương, vùng lãnh thổ hoặc quốc gia cụ thể.

Điều 79 Luật này quy định quy định điều kiện bảo hộ chỉ dẫn địa lý là sản phẩm mang chỉ dẫn địa lý phải có danh tiếng, chất lượng hoặc đặc tính chủ yếu do điều kiện địa lý quyết định. Hồ sơ đăng ký, theo Điều 106, phải bao gồm bản đồ khu vực địa lý xác định, mô tả mối liên hệ giữa chất lượng và địa lý, cùng chứng cứ về danh tiếng.

Trong cấu trúc pháp lý này, “địa danh” không chỉ là tên gọi thông thường, mà là yếu tố pháp lý cấu thành quyền bảo hộ, vừa mang tính kỹ thuật (xác định ranh giới), vừa mang tính biểu tượng (nguồn gốc hàng hóa). Do đó, khi địa danh bị xóa khỏi hệ thống hành chính, cơ sở để xác lập ranh giới pháp lý của vùng chỉ dẫn địa lý cũng đồng thời mất đi.

Xét về hình thức, đây là việc tạm dừng triển khai dự án đăng ký bảo hộ chỉ dẫn địa lý, chưa đến mức chấm dứt hiệu lực một quyền đã được cấp. Tuy nhiên, về bản chất, đây là sự thiếu điều kiện pháp lý khách quan, cụ thể là thiếu cơ sở để định vị vùng địa lý.

Việc dừng là đúng quy định pháp luật hiện hành, Luật SHTT không cho phép cấp văn bằng bảo hộ khi địa danh không còn hợp lệ hoặc gây nhầm lẫn. Nhưng đây lại cho thấy tính cứng nhắc của cơ chế hiện hành, khi pháp luật chưa cho phép duy trì hoặc kế thừa chỉ dẫn địa lý.

Việc sáp nhập, đổi tên hoặc giải thể đơn vị hành chính tạo ra chuỗi hệ quả pháp lý phức hợp.

Trước hết, mất tính xác định của vùng địa lý - khi tên gọi cũ không còn trong bản đồ hành chính, cơ quan đăng ký không thể xác định phạm vi bảo hộ.

Tiếp đó, làm gián đoạn quyền sở hữu tập thể - các tổ chức, hiệp hội sản xuất không còn căn cứ để tiếp tục quản lý chỉ dẫn địa lý, hay thậm chí là nguy cơ mất thương hiệu địa phương, tên gọi quen thuộc không còn cơ sở pháp lý để sử dụng trong thương mại.

Nói cách khác, việc thay đổi hành chính vô tình có thể dẫn đến thay đổi quyền tài sản trí tuệ - điều chưa được pháp luật Việt Nam dự liệu.

IMG_8244.jpeg
TS Nguyễn Thái Cường, Viện Luật So sánh, Trường Đại học Luật TP.HCM. Ảnh: ULAW

Kinh nghiệm quốc tế mà Việt Nam có thể tham khảo

Trong khi đó, kinh nghiệm quốc tế cho thấy cách tiếp cận khác biệt và linh hoạt hơn. Pháp luật của Liên minh châu Âu (EU), đặc biệt là Quy định (EU) số 1151/2012 về các sản phẩm nông nghiệp và thực phẩm bảo hộ chỉ dẫn địa lý quy định về ranh giới địa lý.

Giải pháp cho việc sáp nhập các đơn vị hành chính tại Việt Nam làm thay đổi tên gọi địa giới pháp lý, mà không làm thay đổi hay chấm dứt hiệu lực của các chỉ dẫn địa lý đã được bảo hộ.

Dựa trên tinh thần của Điều 7 Quy định (EU) số 1151/2012, có 3 lập luận then chốt để giải trình vấn đề này.

Thứ nhất, ranh giới địa lý của sản phẩm được xác lập dựa trên các yếu tố tự nhiên khách quan hơn là địa giới hành chính.

Theo quy định tại Điều 7, ranh giới của một chỉ dẫn địa lý phải được xác định dựa trên "mối liên kết" với các đặc tính của sản phẩm. Thực chất, ranh giới này được khoanh vùng bởi các yếu tố thổ nhưỡng, khí hậu, độ cao và vùng văn hóa truyền thống - những yếu tố vốn mang tính cố định và tồn tại khách quan.

Trong khi việc sáp nhập tỉnh, thành là một thay đổi về mặt quản trị, thì vùng tọa độ địa lý tạo nên chất lượng sản phẩm vẫn giữ nguyên giá trị. Do đó, chỉ dẫn địa lý được bảo hộ dựa trên vùng đất thực tế chứ không phụ thuộc vào sự phân chia hành chính tại một thời điểm nhất định.

Thứ hai, tên gọi chỉ dẫn địa lý được bảo hộ dựa trên danh tiếng thương mại và giá trị lịch sử lâu đời. Chiếu theo Điều 7, tên gọi được bảo hộ là tên gọi đang được sử dụng rộng rãi trong thương mại hoặc ngôn ngữ thông dụng, gắn liền với lịch sử của vùng địa lý đó. Những tên gọi như "Nước mắm Phan Thiết"... đã trở thành tài sản trí tuệ có sức sống độc lập.

Vì vậy, ngay cả khi đơn vị hành chính cũ không còn tồn tại về mặt tên gọi pháp lý sau khi sáp nhập, tên gọi chỉ dẫn địa lý vẫn có thể được duy trì vì nó đại diện cho một thương hiệu tập thể đã được lịch sử và thị trường thừa nhận, không nhất thiết phải đổi tên theo đơn vị hành chính mới.

Cuối cùng, cốt lõi của bảo hộ chỉ dẫn địa lý là duy trì "mối liên kết" giữa chất lượng sản phẩm và nguồn gốc địa lý.

Theo Điều 7 nêu trên, điều kiện tiên quyết để duy trì bảo hộ là chứng minh được chất lượng, danh tiếng hoặc các đặc tính đặc thù của sản phẩm vẫn được đảm bảo bởi môi trường địa lý đó.

Việc sáp nhập tỉnh, thành không làm thay đổi các đặc tính lý học, hóa học hay cảm quan vốn có của sản phẩm. Miễn là quy trình sản xuất và các yếu tố tự nhiên tại vùng đất đó không thay đổi, "mối liên kết" này vẫn được bảo toàn.

Các thay đổi về tổ chức quản lý chỉ đơn thuần là thủ tục cập nhật hồ sơ hành chính, không làm ảnh hưởng đến bản chất và hiệu lực bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ đã được xác lập cho cộng đồng nhà sản xuất tại địa phương.

Cần cơ chế bảo hộ thích ứng khi địa danh thay đổi

Từ thực tiễn trên, cần có những kiến nghị để hoàn thiện cơ chế pháp lý theo hướng thích ứng.

Trước hết, cần thiết lập nguyên tắc kế thừa địa lý trong Luật SHTT, bổ sung điều khoản cho phép chỉ dẫn địa lý tiếp tục được bảo hộ dù địa danh hành chính thay đổi, miễn là mối liên hệ địa lý và chất lượng sản phẩm không thay đổi.

Cần chuẩn hóa xác định vùng bằng hệ tọa độ kỹ thuật (GIS), Cục SHTT nên chuyển sang xác định vùng chỉ dẫn địa lý theo tọa độ địa lý chuẩn quốc gia, nhằm đảm bảo tính ổn định, thay vì dựa vào tên tỉnh.

Ngoài ra, cần tạo cơ chế cập nhật hành chính rút gọn, xây dựng quy trình “cập nhật địa danh” thay vì buộc đăng ký mới. Thủ tục này chỉ cần xác nhận của cơ quan hành chính và Sở KH&CN địa phương.

Pháp luật cũng cần công nhận địa danh truyền thống lịch sử nếu đã có danh tiếng lâu đời, tránh tình trạng xóa bỏ chỉ dẫn địa lý vì tên gọi hành chính bị thay đổi.

Cuối cùng, cần sự phối hợp liên ngành và cơ sở dữ liệu mở, ban hành thông tư liên tịch quy định cơ chế thông tin song hành khi điều chỉnh địa giới; đồng thời xây dựng cơ sở dữ liệu chỉ dẫn địa lý quốc gia mở, đồng thời cập nhật mới.

Cần thiết lập khung pháp lý kế thừa địa lý

Trường hợp tôm Bình Thuận là thách thức pháp lý cho Việt Nam, sự thay đổi địa danh hành chính có thể dẫn tới mất quyền SHTT nếu pháp luật không có cơ chế bảo hộ thích ứng.

Bảo hộ chỉ dẫn địa lý không chỉ là bảo vệ một sản phẩm, mà là bảo vệ di sản văn hóa - kinh tế của cộng đồng.

Do đó, Việt Nam cần thiết lập khung pháp lý kế thừa địa lý, nhằm bảo đảm quyền SHTT vùng miền vẫn giữ được sự ổn định, liên tục.

Đừng bỏ lỡ

Video đang xem nhiều

Đọc thêm