TP.HCM vừa tổ chức Hội thảo tham vấn ý kiến chuyên gia, nhà khoa học, trí thức tiêu biểu về dự thảo Luật Đô thị đặc biệt và đang được thành phố khẩn trương hoàn thiện. Theo đó, Dự thảo Luật Đô thị đặc biệt dành cho TP.HCM được kỳ vọng sẽ tạo cơ chế đột phá để TP.HCM bứt phá trong giai đoạn phát triển mới.
Tuy nhiên, theo PGS.TS Phạm Thị Thanh Xuân - Phó Viện trưởng, Viện Nghiên cứu Phát triển công nghệ Ngân hàng (trường ĐH Kinh tế - Luật, ĐH Quốc gia TP.HCM - ảnh), điều quan trọng không chỉ là trao thêm thẩm quyền mà phải thiết kế luật đủ khả năng tháo nghẽn nguồn lực, chuyển hóa ngoại lực thành nội lực và định hình rõ hình hài phát triển của TP.HCM đến năm 2045.
Tạo năng lực phát triển mới cho TP.HCM
. Phóng viên: Thưa bà, nhiều kỳ vọng đang đặt vào Luật Đô thị đặc biệt như một “chiếc chìa khóa” cho tăng trưởng của TP.HCM. Theo bà, điều gì khiến dự thảo luật này khác với một đạo luật quản lý đô thị thông thường?
+ PGS.TS Phạm Thị Thanh Xuân: Nếu đọc sâu vào toàn bộ cấu trúc điều khoản, có thể thấy Dự thảo Luật Đô thị đặc biệt dành cho TP.HCM không được thiết kế như một đạo luật quản lý đô thị thông thường, mà là một luật kiến tạo nguồn lực phát triển theo tư duy chiến lược dài hạn.
Điểm đặc biệt nhất của dự thảo nằm ở chỗ luật được xây dựng dựa trên logic phát triển rất rõ ràng với ba trụ cột: thứ nhất là tháo gỡ nội lực đang bị nghẽn; thứ hai là thu hút ngoại lực; và thứ ba, quan trọng hơn cả, là chuyển hóa ngoại lực thành năng lực nội sinh bền vững của TP.
Tức luật không chỉ trao thêm quyền quản lý cho TP.HCM mà hướng đến tạo ra năng lực phát triển mới. Nếu thành công, TP.HCM không chỉ có thêm cơ chế đặc thù mà có thể hình thành một mô hình phát triển đô thị ở cấp độ chiến lược quốc gia.
Tôi cho rằng đây là điểm rất đáng ghi nhận, bởi nhiều năm qua, chúng ta thường tiếp cận theo hướng “xin thêm cơ chế”. Nhưng cơ chế chỉ là công cụ. Điều quan trọng hơn là công cụ đó có tạo được nguồn lực mới hay không, có giúp giải phóng các nguồn lực đang bị kìm hãm hay không và có biến nguồn lực bên ngoài thành năng lực phát triển thực sự của TP hay không.
Nói cách khác, nếu luật chỉ dừng ở việc trao thêm thẩm quyền thì chưa đủ. Một luật đô thị đặc biệt đúng nghĩa phải tạo ra khả năng phát triển đặc biệt.
Tháo gỡ các điểm nghẽn nhiều năm
. Trong nhiều năm, TP.HCM thường được nhắc đến với nghịch lý “nguồn lực lớn nhưng bị trói tay”. Theo bà, dự thảo luật đang cố tháo những nút thắt nào?
+ Theo tôi, dự thảo luật đã nhận diện khá rõ ba điểm nghẽn lớn nhất của TP.HCM hiện nay, gồm: thể chế, không gian và tài chính.
Đối với điểm nghẽn thể chế, TP lâu nay tồn tại tâm lý “không dám làm vì chưa có tiền lệ”. Điều này khiến nhiều cơ hội phát triển bị bỏ lỡ. Dự thảo luật đã trao cho HĐND và UBND TP.HCM quyền ban hành các văn bản quy phạm pháp luật khác với quy định hiện hành của một số bộ, ngành trung ương để phù hợp thực tiễn. Đặc biệt, cơ chế miễn hoặc loại trừ trách nhiệm pháp lý cho cán bộ dám nghĩ, dám làm vì lợi ích chung là điểm rất đột phá, bởi nó trực tiếp tác động đến tâm lý sợ trách nhiệm trong bộ máy.
Đối với điểm nghẽn không gian, tư duy phát triển được chuyển từ không gian mặt đất sang khai thác tổng thể không gian ngầm, không gian tầm thấp và tầm cao. TP cũng được áp dụng mô hình quy hoạch đô thị lấy hệ thống giao thông công cộng như ga metro làm trung tâm (hay gọi tắt là TOD) để thu hồi giá trị gia tăng từ đất quanh các nhà ga đường sắt, qua đó tái tạo nguồn lực phát triển đô thị.
Về tài chính, TP.HCM được cởi trói đáng kể khi có thể giữ lại 100% phần tăng thu từ nhiều nguồn, hưởng toàn bộ nguồn thu từ bán tín chỉ carbon, tiền sử dụng đất và được quyền đề xuất các loại phí, lệ phí mới. Điều này tạo ra dư địa tài khóa lớn hơn để TP chủ động đầu tư thay vì phụ thuộc vào cơ chế phân bổ truyền thống.
Tôi cho rằng, điều đáng chú ý là dự thảo không chỉ nói “trao quyền” mà đang cố gắng tháo đúng các điểm nghẽn đã tồn tại nhiều năm.
Dự thảo Luật Đô thị đặc biệt gồm 9 chương, 45 điều, đề xuất nhiều cơ chế mang tính đột phá nhằm tạo động lực để TPHCM phát triển vượt trội.
Trong đó đề xuất phân quyền triệt để với gần 300 thẩm quyền được giao trực tiếp cho HĐND, UBND và Chủ tịch UBND Thành phố.
Biến tri thức thành năng lực sản xuất
. Một số ý kiến cho rằng thu hút vốn, công nghệ hay nhân tài quốc tế mới là trọng tâm của Luật Đô thị đặc biệt. Quan điểm của bà thế nào?
+ Theo tôi, đó mới chỉ là một nửa câu chuyện. Dự thảo luật đúng là có nhiều cơ chế mạnh để thu hút ngoại lực. Ví dụ, các dự án lớn về nghiên cứu và phát triển (R&D), công nghệ cao được miễn tiền thuê đất trong nhiều năm, doanh nghiệp đổi mới sáng tạo được ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp, TP có cơ chế phát triển khu thương mại tự do, khu logistics tích hợp hay trung tâm tài chính quốc tế.
Đối với nhân lực chất lượng cao, luật cho phép cấp thị thực dài hạn đến 5 năm và thẻ tạm trú đến 10 năm cho chuyên gia, nhà khoa học quốc tế làm việc trong các trung tâm đổi mới sáng tạo. Điều này thể hiện tư duy cạnh tranh nguồn nhân lực toàn cầu rất rõ.
Tuy nhiên, điểm cốt lõi không nằm ở việc “thu hút được bao nhiêu” mà ở chỗ “chuyển hóa được đến đâu”. Nếu chỉ thu hút FDI, công nghệ hay chuyên gia nhưng không tạo được năng lực nội sinh thì TP vẫn sẽ phụ thuộc.
Tôi đánh giá cao việc dự thảo luật đã tính đến cơ chế đào tạo nhân lực tiếp nhận công nghệ bằng ngân sách nhà nước; cho phép viện nghiên cứu, trường đại học công lập thành lập doanh nghiệp hoặc góp vốn để thương mại hóa tài sản trí tuệ; cũng như cơ chế sandbox để doanh nghiệp thử nghiệm mô hình công nghệ mới. Nghĩa là luật đang hướng đến việc biến tri thức thành năng lực sản xuất, biến công nghệ nhập khẩu thành công nghệ làm chủ và biến ngoại lực thành nội lực phát triển lâu dài.
Theo tôi, đây mới là chiều sâu đáng giá nhất của dự thảo.
Cần thiết kế đúng cơ chế quỹ đầu tư khoa học – công nghệ
. Bà dành khá nhiều góp ý cho cơ chế quỹ đầu tư khoa học – công nghệ. Vì sao nội dung này cần được thiết kế lại?
+ Bởi nếu thiết kế đúng, đây có thể trở thành “động cơ vốn” cho hệ sinh thái đổi mới sáng tạo của TP.HCM.
Tôi đề xuất nên sửa Điều 27 trong dự thảo Luật Đô thị đặc biệt theo hướng quỹ không chỉ là nơi cấp vốn đơn thuần mà hoạt động theo mô hình quỹ mẹ, có khả năng huy động vốn, dẫn vốn, đồng đầu tư, chia sẻ rủi ro và thành lập các doanh nghiệp dự án chuyên biệt – tức SPV – để triển khai từng công nghệ, nhiệm vụ hay sản phẩm cụ thể. Mô hình này có nhiều ưu điểm.
Trước hết, vốn nhà nước không chỉ là tiền cấp phát mà trở thành vốn mồi kéo thêm vốn tư nhân, vốn doanh nghiệp, viện trường, nhà khoa học và cả vốn quốc tế cùng tham gia. Thứ hai, mỗi SPV là một pháp nhân độc lập nên rủi ro được chia nhỏ theo từng dự án, tránh lan sang toàn bộ quỹ hoặc ngân sách TP. Thứ ba, SPV có thể vận hành linh hoạt hơn về tuyển dụng, mua sắm, gọi vốn, thương mại hóa công nghệ hay thoái vốn – điều mà cơ chế quản trị công truyền thống thường gặp hạn chế.
Quan trọng hơn, nếu một SPV thành công, quỹ có thể thu hồi vốn để tái đầu tư cho dự án khác, tạo cơ chế vốn tuần hoàn.
Tôi cũng đề xuất nên cân nhắc bỏ chữ “mạo hiểm” khỏi tên quỹ và thay yêu cầu “hiệu quả, bảo toàn và phát triển vốn” bằng “đúng mục tiêu”. Bởi đổi mới sáng tạo luôn có xác suất thất bại nhất định. Nếu quá nhấn vào bảo toàn vốn sẽ tạo áp lực “không được sai”, từ đó lại làm nảy sinh tâm lý sợ trách nhiệm.
Hiểu đúng quỹ tài chính nhà nước ngoài ngân sách
. Bên cạnh đó, bà cũng đề nghị tăng tính đặc thù cho quỹ tài chính nhà nước ngoài ngân sách. Điều gì khiến bà thấy cần thiết?
+ Vì quỹ ngoài ngân sách không nên được vận hành như ngân sách thông thường. Tôi nghĩ nên cân nhắc điều chỉnh điểm d khoản 4 Điều 38 theo hướng bỏ cụm “tương tự nguồn vốn khác”. Quỹ ngoài ngân sách phải được thiết kế để xử lý độ trễ ngân sách, ứng vốn nhanh và quay vòng vốn, chứ không nên vận hành giống hệt nguồn vốn ngân sách thông thường và tránh nhầm lẫn với Quỹ Công tư kết hợp.
Nếu dự thảo tiếp tục quy định quỹ vận hành “tương tự nguồn vốn khác” thì sẽ vô tình làm mất chính lợi thế đặc thù của nó. Vì vậy, tôi đề xuất thiết kế theo hướng quỹ được ứng vốn nhanh, cho vay hoàn trả, đồng tài trợ hoặc hỗ trợ tạm thời cho các dự án đã được phê duyệt, có nguồn hoàn trả rõ ràng. Khi vốn quay trở lại, quỹ tiếp tục dùng để hỗ trợ dự án khác.
Điều này giúp xử lý độ trễ ngân sách – vốn là vấn đề rất phổ biến hiện nay – đồng thời đẩy nhanh tiến độ các dự án trọng điểm. Thay vì chờ quy trình phân bổ kéo dài, quỹ có thể đóng vai trò công cụ điều phối dòng tiền công một cách linh hoạt hơn. Nói ngắn gọn, quỹ ngoài ngân sách phải được thiết kế để “chạy nhanh hơn ngân sách”, nếu không thì rất khó tạo khác biệt.
Cần gắn luật với một chiến lược dài hơi
. Nếu chỉ trao thêm quyền mà thiếu một tầm nhìn phát triển đủ rõ, liệu Luật Đô thị đặc biệt có rơi vào tình trạng “mạnh ai nấy làm”, thưa bà?
+ Đây chính là điều tôi trăn trở nhất. Luật Đô thị đặc biệt không nên chỉ là một đạo luật trao thêm thẩm quyền. Nếu người dân, doanh nghiệp và nhà đầu tư không hình dung được TP.HCM sẽ trở thành gì sau khi luật được thực thi thì rất khó huy động nguồn lực xã hội cùng tham gia.
Vì vậy, tôi đề xuất luật cần được ban hành song song hoặc gắn chặt với “master plan TP.HCM đến năm 2045” (kế hoạch tổng thể, chiến lược dài hạn, đóng vai trò như kim chỉ nam toàn diện – PV). Luật là công cụ trao quyền, còn “master plan” mới cho thấy hình hài TP tương lai. Nếu không có chiến lược phát triển đi cùng, các cơ chế đặc thù có nguy cơ bị sử dụng rời rạc theo từng dự án, từng sở ngành hay từng nhiệm kỳ thay vì phục vụ một tầm nhìn thống nhất.
Đồng thời, luật cũng nên có các phụ lục nhận diện điểm nghẽn nguồn lực, đặc biệt với các ngành kinh tế – kỹ thuật mới như UAV hay kinh tế tầm thấp. Nhiều lĩnh vực hiện chưa có mã ngành, thiếu tiêu chuẩn kỹ thuật, thiếu điều kiện thử nghiệm hoặc cơ chế cấp phép rõ ràng. Nếu không chỉ rõ nút thắt nằm ở đâu thì rất khó phát triển hệ sinh thái quy mô lớn.
Theo tôi, cấu trúc phù hợp phải gồm bốn lớp đi cùng nhau: Luật xác lập thẩm quyền và nguồn lực; master plan xác lập hình hài phát triển; chương trình hành động xác định dự án ưu tiên; và bộ KPI đo lường kết quả thực thi. Chỉ khi đó, TP.HCM mới thực sự chuyển được từ “quyền đặc thù” sang “kết quả phát triển đặc biệt”.
. Xin cám ơn bà.
Cần tháo điểm nghẽn về tài sản công dôi dư
Một nội dung khác mà PGS.TS Phạm Thị Thanh Xuân đặc biệt nhấn mạnh là tài sản công dôi dư. Vì sao đây được xem là điểm nghẽn cần tháo? Vì hiện nay có một nghịch lý rất lớn: tài sản công còn rất nhiều nhưng lại không khai thác được.
Điểm nghẽn nằm ở chỗ dự thảo vẫn yêu cầu việc sử dụng tài sản công phải “đúng mục đích, công năng, tiêu chuẩn, định mức”. Cách viết này an toàn nhưng nếu áp dụng cứng thì vô hình trung lại khóa luôn cơ chế khai thác.
Thực tế, nhiều nhà đất công đang bỏ trống hoặc sử dụng dưới công suất vì công năng ban đầu không còn phù hợp. Nếu cứ giữ tiêu chuẩn cũ thì tài sản sẽ tiếp tục bị bỏ phí.
Do đó, PGS.TS Phạm Thị Thanh Xuân đề xuất chuyển tư duy từ “phải đúng tiêu chuẩn hiện có” sang “được xử lý khi tiêu chuẩn hiện có không còn phù hợp”. TP cần được quyền điều chuyển, chuyển đổi công năng, cho thuê, liên doanh, chuyển nhượng quyền khai thác có thời hạn… nhưng phải đi kèm định giá, công khai, kiểm toán và cơ chế giám sát chặt chẽ.